Giáng Sinh là ngày lễ của niềm hy vọng, sự công bằng và tình huynh đệ

19:56 |
Giáng Sinh là ngày lễ của niềm hy vọng, sự công bằng và tình huynh đệ
23.12.2013
Ước gì mỗi gia đình có một căn nhà để ở. Ước chi quyền này và các quyền nền tảng khác đối với sự sống được bảo vệ, mà không dùng bạo lực. Ước chi Giáng Sinh sắp tởi là một ngày lễ của niềm hy vọng, sự công bằng và tình huynh đệ cho tất cả mọi người.
Kính thưa quý vị, thưa các bạn, Đức Thánh Cha Phanxicô đã đưa ra lời cầu chúc trên đây trong buổi đọc Kinh Truyền Tin với hàng chục ngàn tín hữu và du khách hành hương tụ tập tại Quảng trường Thánh Phêrô trưa Chúa Nhật IV Mùa Vọng. Chúa Nhật IV Mùa Vọng cũng được gọi là Chúa Nhật của Chúa Hài Đồng, vì các trẻ em Roma có thói quen đem tượng Chúa Hài Đồng đến để cho Đức Thánh Cha làm phép, rồi đặt vào trong máng cỏ ở nhà.


Trước đó trong bài huấn dụ, Đức Thánh Cha đã đề cao gương mặt của Thánh Giuse và nói: Phúc Âm kể lại các sự kiện xảy ra trước biến cố Chúa Giêsu giáng sinh, và Thánh sử Mátthêu trình bày chúng từ quan điểm của Thánh Giuse, người chồng đã được hứa của Trinh Nữ Maria. Giuse và Maria sống tại Nazareth và chưa ở chung với nhau, bởi vì cuộc hôn nhân chưa hoàn tất. Giữa lúc đó, Đức Maria mang thai do quyền năng của Chúa Thánh Thần, sau khi nghe Sứ thần truyền tin. Ông Giuse nhận ra sự kiện đó thì ngạc nhiên. Tin Mừng không giải thích đâu là các tư tưởng của người nhưng nói cho chúng ta biết điều nòng cốt: thánh nhân tìm thi hành ý muốn của Thiên Chúa và sẵn sàng chấp nhận một sự từ bỏ triệt để nhất. Thay vì tự bảo vệ và làm cho các quyền của mình thắng thế, Thánh Giuse lựa chọn một giải pháp diễn tả một sự hy sinh vĩ đại đối với người. Tin Mừng viết: “Vì là người công chính và không muốn tố giác bà, ông nghĩ tới việc bỏ bà cách kín đáo.” (Mt 1,19).

Đức Thánh Cha giải thích điểm này như sau: Câu ngắn gọn này tóm tắt một thảm cảnh nội tâm đích thực, nếu chúng ta nghĩ tới tình yêu thương mà Thánh Giuse đã có đối với Đức Maria! Nhưng cả trong một trạng huống như vậy nữa, thánh nhân cũng cố ý thực thi ý muốn của Thiên Chúa và quyết định, chắc chắn với nỗi đớn đau lớn, từ giã Đức Maria trong bí mật. Cần phải suy gẫm về các lời này, để hiểu đâu đã là thử thách mà Thánh Giuse đã phải chịu đựng trong các ngày trước khi Chúa Giêsu sinh ra. Một thử thách giống như sự hy sinh của Tổ phụ Abraham, khi Thiên Chúa xin ông người con là Isaác (x. St 22): khước từ điều quý báu nhất, người được yêu thương nhất.

Đức Thánh Cha nói tiếp trong bài huấn dụ: Nhưng như trong trường hợp của Tổ phụ Abraham, Chúa can thiệp: Người đã thấy niềm tin Người tìm kiếm, và mở ra một con đường khác, một con đường của tình yêu và hạnh phúc. Chúa nói: “Hỡi Giuse, đừng sợ đón Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng của Chúa Thánh Thần.” (Mt 1,20).

Bài Tin Mừng này cho chúng ta thấy tất cả tâm hồn cao cả của Thánh Giuse. Người đang theo đuổi một chương trình cuộc sống tốt đẹp, nhưng Thiên Chúa đã dành cho người một dự án khác, một sứ mệnh cao cả hơn.

Đức Thánh Cha định nghĩa thánh nhân như sau:

Thánh Giuse là một người đã luôn luôn lắng nghe tiếng Chúa, vô cùng nhạy cảm đối với ý muốn bí mật của Chúa, một người chú ý tới các sứ điệp đến từ nơi sâu thẳm của con tim và từ trời cao. Người đã không lì lợm theo đuổi dự án đời mình, không cho phép thù hận đầu độc tâm hồn, nhưng đã sẵn sàng đặt mình dưới sự mới mẻ được giới thiệu với thánh nhân một cách kinh ngạc. Và như thế thánh nhân là người tốt lành, không thù ghét và không để cho thù hận đầu độc tâm hồn. Có biết bao lần chán ghét, không thiện cản, thù hận đầu độc linh hồn chúng ta! Và điều này gây ra sự ác. Nhưng Thánh Giuse là một gương mẫu, người không cho phép điều đó xảy ra. Và như vậy thánh nhân lại còn trở thành tự do và cao cả hơn nữa. Khi tự chấp nhận theo chương trình của Thiên Chúa, Thánh Giuse tìm lại chính mình một cách tràn đầy, vượt quá chính mình. Sự tự do khước từ những gì là của mình, khước từ chiếm hữu đời mình, và sự hoàn toàn sẵn sàng nội tậm đối với ý muốn của Thiên Chúa, mời gọi chúng ta và chỉ đường cho chúng ta.

Vì vậy, chúng ta hãy chuẩn bị cử hành Lễ Giáng Sinh, bằng cách chiêm ngưỡng Đức Maria và Thánh Giuse: Đức Maria, người phụ nữ tràn đầy ơn phúc, đã có can đảm tín thác hoàn toàn nơi Lời của Thiên Chúa; Thánh Giuse, người trung thành và công chính, đã thích tin nơi Chúa thay vì lắng nghe các tiếng nói của nghi ngờ và kiêu căng của con người. Với các ngài, chúng ta hãy cùng nhau tiến bước về Bếtlehem.

Tiếp đến, Đức Thánh Cha đã đoc Kinh Truyền Tin và ban phép lành Toà Thánh cho mọi người.

Sau Kinh truyền Tin, chỉ một băng rôn tín hữu cầm ở quảng trường, Đức Thánh Cha nói: Tôi đọc thấy hàng chữ lớn viết “Người nghèo không chờ đợi được”. Thật là đẹp! Điều này khiến tôi nghĩ tới Chúa Giêsu đã sinh hạ trong một chuồng bò, chứ không phải trong một căn nhà. Sau đó Người đã phải trốn sang Ai Cập để cứu mạng sống, rồi trở về nhà mình tại Nazareth. Và hôm nay, khi đọc hàng chữ này, tôi nghĩ tới biết bao gia đình không có nhà ở, vì đã mất nhà hay vì biết bao nhiêu lý do khác. Gia đình và nhà ở đi liền với nhau. Thật rất khó khăn đưa một gia đình tiến tới mà không ở trong một căn nhà. Trong các ngày Lễ Giáng Sinh này, tôi mời gọi tất cả mọi người: các cá nhân, các cơ cấu xã hội và các chính quyền hãy làm tất cả những gì có thể để cho mỗi gia đình có thể có một căn nhà ở.

Tiếp đến, Đức Thánh Cha đã chào mọi người hiện diện, các đoàn thể, giáo xứ, các gia đình, xứ đạo, đặc biệt là các tham dự viên cuộc chạy đua từ Alessandria tới Roma để làm chứng cho dấn thân thăng tiến hoà bình tại Somalia, Phi châu. Đối với các tín hữu Italia tụ tập tại quảng trường để bày tỏ sự dấn thân xã hội, Đức Thánh Cha cầu chúc họ góp phần xây dựng, bằng cách khước từ xung đột và bạo lực, nhưng luôn theo con đường đối thoại. Ngài chúc mọi người một Lễ Giáng Sinh của niềm hy vọng, sự công bằng và tình huynh đệ.



Linh Tiến Khải

(Nguồn: R. Vatican)

"Phép lạ" của Đức Phaolô VI được y khoa công nhận

01:19 |
Đức Phaolô VI đến gần thêm một bước để được tuyên chân phước theo như Uỷ ban Y khoa của Bộ Tuyên Thánh tuyên bố, rằng việc chữa lành nhờ sự chuyển cầu của Đức cố Giáo hoàng của Ý cho một em bé chưa chào đời là không thể giải thích được.
----------------


EMTY (VATICAN INSIDER, 13-12-2013) – Uỷ ban Y khoa của Bộ Tuyên Thánh dưới sự chủ trì của Tiến sĩ Patrizio Polisca, bác sĩ riêng của ĐGH Bênêđictô XVI và ĐGH Phanxicô, đã gọi việc chữa lành nhờ sự chuyển cầu của Đức Giovanni Battista Montini - Giáo hoàng Phaolô VI - là "không thể giải thích được". Phép lạ sẽ được thẩm tra bởi các nhà thần học và các hồng y trước khi nhận được sự chấp thuận của Đức Giáo hoàng; nhưng phần khó khăn nhất đã vượt qua và hy vọng việc tuyên chân phước Đức Montini sẽ diễn ra trong vài tháng tới.
 
Từ danh sách các trường hợp được tường trình chữa lành mà cáo thỉnh viên của ĐGH Phaolô VI, Cha Antonio Marrazzo, nhận được, ngài đã chọn một trường hợp thử nghiệm lâm sàng cho thấy là "không thể giải thích được". Cha Marrazzo đã chọn trường hợp chữa lành này cách đây không lâu.

Một năm trước, vào ngày 20-12-2012, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã chấp thuận các nhân đức anh hùng của Đức Phaolô VI, kết thúc tiến trình theo Giáo luật; chỉ cần một phép lạ để tiến tới việc tuyên chân phước.
 
Phép lạ do Cha Marrazzo chọn để trình bày cho uỷ ban là việc chữa lành một em bé chưa chào đời ở California trong khoảng đầu thập niên 1990. Trong chu kỳ mang thai của người phụ nữ, các bác sĩ nhận thấy một vấn đề nghiêm trọng nơi bào thai, thường dẫn đến tổn thương não, và khuyên người mẹ huỷ bỏ thai nhi. Người mẹ từ chối và quyết định tiếp tục mang thai, tin tưởng vào sự cầu bầu của Đức Phaolô VI, vị Giáo hoàng đã viết Thông điệp “Humanae Vitae” (Sự sống Con người) vào năm 1968.

Đứa trẻ được sinh ra mà không có bất kỳ khuyết tật nào, nhưng chỉ khi đứa trẻ đến tuổi dậy thì các bác sĩ mới có thể chắc chắn em hồi phục hoàn toàn mà không có bất kỳ vấn đề nào.

Một năm trước, Cha Marrazzo nói với Đài Phát thanh Vatican rằng "một sự kiện thực sự phi thường và siêu nhiên đã xảy ra nhờ lời cầu bầu của Đức Phaolô VI". Vụ chữa lành này là hoàn toàn phù hợp với giáo huấn của Đức Phaolô VI, người đã viết Thông điệp "Humanae Vitae" về bảo vệ sự sống con người, nhưng đồng thời cũng để bảo vệ gia đình, bởi vì tài liệu còn nói đến tình yêu vợ chồng, chứ không phải chỉ nói đến sự sống chưa sinh mà thôi. Việc chữa lành này phù hợp với cách suy nghĩ của Đức Montini.
 
Cuộc tranh luận về án tuyên chân phước của Đức cố Giáo hoàng Phaolô VI đã gia tăng trong năm qua, từ việc các bác sĩ trao đổi những ý kiến về y khoa cho đến khi có phán quyết cuối cùng vào ngày hôm qua.

Phát biểu tại một hội nghị vào cuối tháng 11 về chuyến thăm của Đức Phaolô VI đến Đất Thánh, Đức Tổng Giám mục Milan, Đức Hồng y Angelo Scola, cho biết việc tuyên chân phước Đức cố Giáo hoàng "sắp diễn ra".


Hùng Nguyễn

Toàn văn Sứ điệp Hoà bình của Đức Thánh Cha - Tình huynh đệ, nền tảng và là con đường dẫn tới hòa bình

08:22 |


Trong Sứ điệp Ngày Thế giới Hoà bình đầu tiên của mình, tôi ước ao gửi đến mọi người, cá nhân cũng như các dân tộc, ước mong về một đời sống được đổ đầy với niềm vui và hy vọng. Trong trái tim của mỗi người nam và người nữ luôn thường trực một nỗi khao khát về một đời sống sung mãn, bao gồm khao khát không thể kìm nén được về tình huynh đệ vốn là điều lôi kéo chúng ta đến với người khác và giúp chúng ta đối xử với họ không như là kẻ thù hay người đối địch, nhưng như là anh chị em được đón nhận và ôm ấp.



Vì chúng ta là một hữu thể tương quan, tình huynh đệ là một phẩm chất thiết yếu của con người. Một ý thức sống động về mối tương quan này giúp chúng ta nhìn và đối xử với nhau như là anh chị em đích thực. Không có tình huynh đệ thì không thể xây dựng một xã hội công bình và một nền hoà bình bền vững và viên mãn. Chúng ta nên nhớ rằng tình huynh đệ cách chung được học biết tại gia đình, trên hết là nhờ vào vai trò trách nhiệm và sự giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên, đặc biệt là người cha và người mẹ. Gia đình là nguồn mạch của tình huynh đệ, và như thế gia đình chính là nền tảng và là con đường đầu tiên dẫn đến hoà bình, vì ơn gọi của gia đình chính là thông truyền tình yêu cho thế giới xung quanh.

Việc gia tăng về các mối liên hệ nối kết với nhau và truyền thông trong thế giới hôm nay khiến chúng ta ý thức nhiều hơn về sự hiệp nhất và số phận chung của các quốc gia. Trong sự năng động của lịch sử, trong sự đa dạng của các nhóm chủng tộc, xã hội và văn hoá, chúng ta nhìn thấy những hạt giống, là ơn gọi hình thành một cộng đoàn gồm những anh chị em biết đón nhận và chăm sóc lẫn nhau. Nhưng ơn gọi này vẫn thường xuyên bị khước từ và lờ đi trong một thế giới bị ghi dấu bởi “sự toàn cầu hoá dửng dưng”, điều làm cho chúng ta dần quen với sự đau khổ của người khác và khép mình lại.

Tại nhiều nơi trên thế giới, những tội ác chống lại những quyền nền tảng của con người dường như không kết thúc, đặc biệt là quyền sống và quyền tự do tôn giáo. Những thảm cảnh về tệ nạn buôn bán người, mà trong đó đời sống và nỗi tuyệt vọng của người khác là miếng mồi ngon của những kẻ vô đạo đức, là một ví dụ điển hình cho vấn đề này. Cùng với các cuộc xung đột vũ trang công khai là các cuộc chiến tranh ít nhìn thấy hơn, nhưng không kém phần độc ác, đó là các cuộc chiến trong các lĩnh vực kinh tế và tài chính, chúng phá huỷ cuộc sống, phá huỷ gia đình cũng như doanh nghiệp.

Toàn cầu hoá, như ĐTC Bênêđictô XVI chỉ ra, làm cho chúng ta trở thành “hàng xóm” nhưng không giúp chúng ta trở thành anh chị em của nhau.[1] Nhiều tình huống bất bình đẳng, nghèo đói và bất công không chỉ là dấu chỉ của việc thiếu tình huynh đệ sâu sắc mà còn là dấu chỉ của sự vắng mặt một nền văn hoá liên đới. Những ý thức hệ mới, được đặc trưng bởi sự lan tràn của chủ nghĩa cá nhân, việc tự coi mình là trung tâm và chủ nghĩa tiêu thụ vật chất, làm suy yếu đi các mối tương quan xã hội và làm nảy sinh não trạng “thải bỏ” dẫn đến thái độ xem thường và loại bỏ những người yếu đuối nhất và những người bị xem là “vô dụng”. Trong cách này, sự đồng tồn tại của con người ngày càng có xu hướng trở thành một hành vi “có qua có lại” (do ut des) đầy thực dụng và ích kỷ.

Đồng thời, rõ ràng là hệ thống đạo đức đương đại không có khả năng tạo ra những mối tương quan huynh đệ đích thực, vì tình huynh đệ này không muốn tham chiếu đến một vị Cha chung là nền tảng tội hậu giúp nó tồn tại.[2] Tình huynh đệ đích thực giữa con người giả thiết và đòi hỏi một Tình Phụ tử siêu vượt. Nếu đặt nền tảng trên việc thừa nhận tình phụ tử này, tình huynh đệ nhân loại sẽ được củng cố: Mỗi người trở thành một “bạn hữu” để chăm lo cho người khác.

“Em ngươi đâu?” (St 4,9) 
2. Để hiểu đầy đủ hơn về ơn gọi của con người đối với tình huynh đệ, để nhận ra một cách rõ ràng hơn những cản trở trên bước đường hiện thực hóa ơn gọi này và để nhận ra những con đường nhằm vượt qua những cản trở ấy, điều quan trọng nhất là chúng ta hãy để cho mình hiểu biết kế hoạch của Thiên Chúa, một kế hoạch được trình bày trong một cách thức trổi vượt trong Kinh Thánh.

Theo tường thuật Thánh Kinh về sáng tạo, tất cả con người có nguồn gốc từ một cha mẹ, Adam và Eve, đôi bạn được Thiên Chúa sáng tạo theo hình ảnh Ngài và giống như Ngài (x. St 1,26), từ họ, Cain và Abel được sinh ra. Trong lịch sử của gia đình đầu tiên này, chúng ta nhìn thấy nguồn gốc của xã hội và sự tiến triển của các mối tương quan giữa các cá nhân và dân tộc.

Abel là một người chăn cừu, Cain là một người trồng trọt. Căn tính sâu sắc của họ và ơn gọi của họ chính là anh em bất chấp sự đa dạng trong hoạt động và văn hoá, trong cách thức họ tương quan với Thiên Chúa và tạo vật. Việc Cain đã giết em mình là Abel cho thấy một thảm kịch của sự khước từ triệt để ơn gọi làm anh em của Cain. Câu chuyện của họ (x. St 4,1-16) chỉ ra nhiệm vụ khó khăn mà mọi người nam và nữ được mời gọi, để sống như một, mỗi người phải quan tâm đến người khác. Cain vì không thể chấp nhận việc Thiên Chúa yêu mến Abel hơn, vì Abel đã dâng cho Ngài lễ vật tốt nhất - “Ðức Chúa đoái nhìn đến Abel và lễ vật của ông, nhưng Cain và lễ vật của ông thì Người không đoái nhìn. Cain giận lắm, sa sầm nét mặt.” (St 4,4-5) - nên đã giết Abel vì ghen tị. Theo cách này, ông từ chối xem Abel là anh em, có mối liên hệ đúng đắn với Abel và sống trong sự hiện diện của Thiên Cháu bằng cách đón nhận trách nhiệm chăm sóc và bảo vệ người khác. Khi Thiên Chúa hỏi Cain “Em ngươi đâu?” (St 4,9), Thiên Chúa muốn Cain giải thích điều ông đã làm. Ông trả lời: "Con không biết. Con là người giữ em con hay sao?" Sau đó, sách Sáng Thế nói cho chúng ta biết, “ông Cain đi xa khuất mặt Ðức Chúa" (4,16).

Chúng ta tự hỏi đâu là lý do đích thực khiến Cain xem thường mối tương quan huynh đệ và, đồng thời, mối tương quan hỗ tương và huynh đệ nối kết ông với em mình là Abel. Chính Thiên Chúa đã kết án và quở trách Cain vì ông đã thông đồng với sự dữ: “tội lỗi đang nằm phục ở cửa” (St 4,7). Nhưng Cain đã khước từ, ông đồng loã với sự dữ và quyết định “xông đến giết Abel, em mình” (St 4,8), như thế là ông xem thường kế hoạch của Thiên Chúa. Và như thế, ông đã phá vỡ lời mời gọi ban sơ của mình để trở nên con cái Thiên Chúa và sống trong tình huynh đệ.

Câu chuyện của Cain và Abel dạy cho chúng ta biết rằng chúng ta có một lời mời gọi huynh đệ, nhưng nó cũng có thể trở thành thảm kịch khi phản bội lại lời mời gọi này. Điều này được chứng thực bởi những hành động ích kỷ hằng ngày của chúng ta, chúng là nguồn gốc của quá nhiều chiến tranh và bất công: nhiều người nam và người nữ đã chết dưới bàn tay của anh chị em mình, những người không có khả năng để nhận ra nơi người khác như chính họ là, nghĩa là như là những hữu thể được dựng nên trong mối tương quan với người khác, trong sự hiệp thông và trao ban.

“Tất cả anh em đều là anh em với nhau” (Mt 23,8)


3. Một câu hỏi tự nhiên nảy sinh là: Người nam và người nữ trên thế giới này có khả năng để đáp trả một cách trọn vẹn khao khát tình huynh đệ mà Thiên Chúa là Cha đã đặt để trong họ không? Họ sẽ tự mình nỗ lực bởi chính khả năng của họ để vượt qua sự khác biệt, ích kỷ và ghen ghét và đón nhận những khác biệt chính đáng nơi anh chị em mình không?

Nhờ vào việc diễn giải lời của Đức Giêsu, chúng ta có thể tóm tắt câu trả lời mà Ngài đã đưa ra: “Phần anh em, thì đừng để ai gọi mình là "rabbi", vì anh em chỉ có một Thầy; còn tất cả anh em đều là anh em với nhau.” (x. Mt 23,8-9). Nền tảng của tình huynh đệ được dựa trên tình phụ tử của Thiên Chúa. Chúng ta không nói về tình phụ tử giống loài, đầy mơ hồ và bất toàn trong lịch sử, nhưng đúng hơn là một tình yêu cụ thể đầy trổi vượt và đặc biệt của Thiên Chúa dành cho mỗi người nam và nữ (x. Mt 6,25-30). Vì thế, chính tình phụ tử ấy làm nảy sinh một cách hiệu quả tình huynh đệ, bởi vì tình yêu Thiên Chúa, một khi được đón nhận, trở thành một phương tiện lớn lao biến đổi đời sống chúng ta và các mối tương quan của chúng ta với người khác, giúp chúng ta mở mình ra với tình liên đới và sự chia sẻ đích thực.

Trong một cách cụ thể, tình huynh đệ nhân loại được tái tạo trong và qua Đức Giêsu Kitô, qua cái chết và phục sinh của Người. Thánh giá chính là điểm nền tảng cuối cùng mà con người không thể tự mình tái tạo nên. Đức Giêsu Kitô, Đấng đã mặc lấy bản chất con người để cứu độ nó, yêu mến Chúa Cha cho đến chết trên Thập Giá (x. Pl 2,8), qua sự phục sinh của mình đã biến chúng ta thành một nhân loại mới, trong sự hiệp thông trọn vẹn với ý muốn của Thiên Chúa, với kế hoạch của Người, bao gồm một sự hiện thực hoá trọn vẹn ơn gọi làm huynh đệ.

Từ khởi đầu, Đức Giêsu đã đón nhận kế hoạch của Cha, thừa nhận tính ưu việt của nó trên mọi sự. Nhưng Đức Kitô, khi từ bỏ chính mình cho đến chết vì tình yêu dành cho Cha, Ngài đã trở thành nguyên lý chung kết và mới mẻ dành cho tất cả chúng ta; trong Ngài, chúng ta được mời gọi để đối xử với nhau như anh chị em, bởi vì chúng ta là con cái của cùng một Cha. Chính Ngài là Giao ước; nơi Ngài, chúng ta được hoà giải với Thiên Chúa và với nhau như anh chị em. Cái chết của Đức Giêsu trên Thập giá cũng chấm dứt sự chia cách giữa mọi người, giữa dân của Giao ước và Dân Ngoại, những người cho đến giây phút đó không còn hy vọng, vì họ không phải là một phần của Lời hứa. Như chúng ta đọc thấy trong thư gửi Tín hữu Êphêsô, Đức Giêsu Kitô là Đấng hòa giải mọi người nơi chính Ngài. Ngài chính là sự bình an, vì Ngài làm hai người trở nên một, phá vỡ bức tường phân cách chia rẽ họ, là sự thù nghịch giữa họ. Ngài đã tạo nên nơi chính mình một dân, một con người mới, một nhân loại mới (x. 2,14-16).

Tất cả những ai đón nhận đời sống của Đức Kitô và sống nơi Ngài biết rằng Thiên Chúa là Cha và họ sẽ trao ban trọn vẹn thân mình cho Ngài, bằng cách yêu mến Ngài trên hết mọi sự. Một người đã được hoà giải sẽ nhận ra Thiên Chúa là Cha của mọi người, và kết quả là, họ được mời gọi để sống đời sống đệ huynh dành cho hết mọi người. Nơi Đức Kitô, người khác được chào đón và được yêu thương như người con trai hay con gái của Thiên Chúa, như một người chị, một người anh, chứ không phải như người xa lạ, hay tệ hơn là như một kẻ đối địch và thậm chí là kẻ thù. Trong gia đình của Thiên Chúa, nơi mọi người con trai và con gái có cùng một Cha, và vì họ được tháp nhập vào Chúa Kitô, những người con trai và con gái này sẽ ở trong Người Con, không phải là “đời sống đáng vứt đi”. Tất cả người nam và nữ chung hưởng một phẩm giá như nhau và không ai có thể xâm phạm được. Mọi người đều được Thiên Chúa yêu mến. Mọi người đều được cứu chuộc bởi máu của Đức Kitô, Đấng đã chết trên Thập giá và đã sống lại vì hết thảy chúng ta. Đây chính là lý do tại sao không ai có thể tiếp tục dửng dưng trước số phận của anh chị em mình.

Tình huynh đệ, nền tảng và là con đường dẫn đến hoà bình
4. Điều này muốn nói rằng, thật dễ để nhận ra rằng tình huynh đệ chính là nền tảng và con đường dẫn đến hoà bình. Liên quan đến vấn đề này, các thông điệp xã hội mà các vị tiền nhiệm của tôi đã viết trở nên hữu ích. Có lẽ chỉ cần trích dẫn lại những định nghĩa về hoà bình trong các Thông điệp Populorum Progressio của Đức Thánh Cha Phaolô VI và Sollicitudo Rei Socialis của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II thì đã khá đầy đủ. Qua thông điệp thứ nhất, chúng ta biết rằng sự phát triển hội nhất của các dân tộc là một danh xưng mới của nền hòa bình.[3] Từ thông điệp thứ hai, chúng ta kết luận rằng hòa bình là thành quả của sự liên đới (Opus solidaritatis pax).[4]

Đức Phaolô VI đã trình bày rằng, không chỉ cá nhân mà các quốc gia cũng phải gặp gỡ nhau trong tình huynh đệ. Ngài nói: “Trong tình bạn và trong sự hiểu biết lẫn nhau, trong sự hiệp thông thánh này, chúng ta cũng phải… cùng nhau lao tác để xây dựng tương lai chung cho nhân loại.”[5] Trước hết, nhiệm vụ này dành cho những người được ưu tuyển. Trách nhiệm của họ được cắm rễ sâu trong tình huynh đệ nhân loại và mang tính siêu vượt, và được biểu lộ trong 3 cách: bổn phận liên đới, vốn đòi hỏi các nước giàu hơn trợ giúp các nước kém phát triển hơn; bổn phận công bình xã hội, cần tổ chức lại các mối tương quan giữa kẻ mạnh hơn và người yếu thế hơn để có sự công bằng hơn; và bổn phận đức ái chung, bao gồm sự thăng tiến một thế giới nhân bản hơn dành cho mọi người, một thế giới mà nơi ấy mỗi người có một điều gì đó để trao và nhận, mà không xem sự thăng tiến của người này là sự cản trở cho sự phát triển của người khác.[6]

Vậy, nếu chúng ta xem hoà bình là thành quả của sự liên đới, chúng ta không thể không ý thức rằng tình huynh đệ chính là nguyên lý nền tảng của nó. Hoà bình, như ĐTC Gioan Phaolô II khẳng định, là một sự thiện không thể phân chia. Nó là một sự thiện dành cho tất cả và nó cũng là một sự thiện không thuộc về ai. Hoà bình chỉ có thể đạt được và được hưởng dùng, như là một phẩm chất cao nhất của đời sống và một sự phát triển bền vững của nhân loại, nếu tất cả mọi người được hướng dẫn bởi tình liên đới như “là một quyết tâm mạnh mẽ và bền bỉ trong việc dấn thân cho lợi ích chung”.[7] Điều này có nghĩa là đừng để mình được hướng dẫn bởi “ham hố lợi nhuận” hay “khao khát quyền lực”. Điều cần thiết là khao khát “từ bỏ chính mình” vì lợi ích của người khác hơn là khai thác họ, và “phục vụ họ” thay vì áp bức họ vì lợi ích của bản thân mình. “Tha nhân” - cho dẫu là một người hay một quốc gia - không được xem như một loại công cụ, với khả năng làm việc hay sức mạnh thể lý được khai thác với chi phí rẻ mạt, và rồi loại bỏ khi không còn hữu dụng, nhưng là như “đồng loại của chúng ta”, một “trợ tá”.[8]

Tình liên đới Kitô giáo giả thiết rằng tha nhân cần được yêu mến không chỉ “là một con người với những quyền lợi và sự bình đẳng căn bản đối với mọi người, mà còn trở nên hình ảnh sống động của Thiên Chúa Cha, được máu Đức Kitô cứu chuộc và là đối tượng hoạt động của Chúa Thánh Thần”,[9] như biết bao nhiêu anh chị em khác. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II lưu ý, “lúc đó ý thức về tình phụ tử chung của Thiên Chúa, về tình huynh đệ của mọi người trong Đức Kitô, ‘những người con trong Chúa Con’, về sự hiện diện và họat động ban sự sống của Chúa Thánh Thần, đem lại cho cái nhìn của chúng ta về thế giới một tiêu chuẩn mới để giải thích nó”[10] để thay đổi nó.

Tình huynh đệ, một đòi hỏi cho cuộc chiến chống đói nghèo
5. Trong Thông điệp Bác ái trong Chân lý, vị tiền nhiệm của tôi đã nhắc nhở thế giới về sự thiếu hụt tình huynh đệ giữa các dân tộc và giữa người nam và nữ là một nguyên nhân quan trọng của nghèo đói.[11]Trong nhiều xã hội, chúng ta kinh nghiệm về một sự nghèo nàn về các mối tương quan là kết quả của việc thiếu các mối tương quan vững chắc trong gia đình và xã hội. Chúng ta bận tâm nhiều đến các khó khăn, bị gạt ra bên lề, cô lập và các chứng phụ thuộc bệnh lý ngày càng gia tăng. Loại nghèo khó này chỉ có thể vượt qua nhờ vào việc tái khám phá và tôn trọng các mối tương quan huynh đệ trong trái tim của các gia đình và cộng đoàn, thông qua sự chia sẻ niềm vui và nỗi buồn, những thất bại cũng như thành công, vốn là một phần của đời sống con người.

Hơn nữa, nếu như một mặt chúng ta đang chứng kiến một sự giảm sút trong nghèo khó thuần tuý, thì mặc khác, chúng ta cũng không thể không nhận ra rằng có một sự gia tăng rất nghiêm trọng về tình trạng nghèo đói tương đối, nghĩa là những bất công giữa những người và giữa các nhóm cùng chung sống trong một vùng cụ thể hay trong một bối cảnh văn hoá lịch sử xác định. Trong ý nghĩa này, các chính sách hiệu quả cần thăng tiến nguyên lý huynh đệ, nhằm đảm bảo cho con người - những người bình đẳng trong phẩm giá và trong các quyền nền tảng - có thể tiếp cận đến các nguồn vốn, các dịch vụ, hệ thống giáo dục, sức khoẻ và kỹ thuật để mỗi người có cơ hội diễn tả và hiện thực hoá dự án đời sống mình và có thể phát triển một cách trọn vẹn như một con người.

Một người cũng thấy rất cần có những chính sách nhằm giảm thiểu một sự bất công quá lớn trong thu nhập. Chúng ta đừng quên rằng Giáo huấn của Giáo hội về điều được gọi là khế ước xã hội, mà cho rằng, như Thánh Tôma Aquinô nói, điều hợp luật và thực sự cần thiết là “người ta có quyền sở hữu”,[12] trong những gì liên quan đến việc sử dụng của mình, “họ sở hữu chúng không giống như tài sản của mình nhưng cũng là tài sản chung cho người khác, nghĩa là chúng có thể mang lại lợi ích cho người khác cũng như chính bản thân họ”.[13]

Cuối cùng, có một cách thức khác để thăng tiến tình huynh đệ - và thực sự đánh bại sự nghèo đói - mà cũng là nền tảng của tất cả những điều khác. Nó là sự tách mình ra của những người chọn một lời sống đơn sơ và đích thực, của những người mà, bằng cách chia sẻ tài sản của mình, họ thực sự đang cố gắng để kinh nghiệm sự hiệp thông huynh đệ với người khác. Đây chính là nền tảng cho việc theo Đức Kitô và trở nên Kitô hữu đích thực. Đây không chỉ là trường hợp của những người sống đời sống thánh hiến, những người tuyên khấn lời khấn nghèo khó, nhưng là của biết bao nhiêu gia đình và người dân đầy trách nhiệm, những người xác tín rằng, chính mối tương quan huynh đệ của họ với tha nhân mới hình thành nên sự thiện quý giá nhất.

Tái khám phá tình huynh đệ trong nền kinh tế
6. Các cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính nghiêm trọng trong thời gian gần đây - mà nhận ra gốc rễ của chúng chính là con người dần lạc xa Thiên Chúa và tha nhân, một mặt là do việc theo đuổi những của cải vật chất, và mặt khác là do sự bần cùng hoá các mối tương quan liên vị và cộng đoàn - đã thúc đẩy con người tìm kiếm sự thỏa mãn, hạnh phúc và an toàn trong việc tiêu thụ và lợi lộc từ tất cả những gì liên quan đến các nguyên lý của một nền kinh tế vững mạnh. Vào năm 1979, ĐTC Gioan Phaolô II đã mời gọi mọi người lưu ý tới “một lối nhận thức thật sự nguy hại là, trong khi sự thống trị của con người trên thế giới sự vật đang có những bước tiến lớn lao, thì trong sự thống trị của mình, con người đang dần đánh mất những mối dây thiết yếu và trong những cách thế khác nhau, bản tính nhân loại đang bị lệ thuộc vào thế giới và tự mình trở nên một điều phụ thuộc và bị sử dụng, và thậm chí việc sử dụng này không được nhận thức một cách đúng đắn - thông qua toàn thể tổ chức đời sống cộng đoàn, qua hệ thống sản xuất và áp lực từ các phương tiện truyền thông xã hội”.[14]

Các cuộc khủng hoảng kinh tế nối tiếp nhau nói cho chúng ta biết chúng ta cần suy nghĩ lại về những khuôn mẫu phát triển kinh tế của chúng ta và tiến tới một sự thay đổi trong cách sống. Các cuộc khủng hoảng ngày nay, thậm chí với những hậu quả nghiêm trọng cho đời sống con người, cũng cung cấp cho chúng ta một cơ hội quý giá để tái khám phá các nhân đức khôn ngoan, tiết độ, công bình và can đảm. Các nhân đức này có thể giúp chúng ta vượt qua những thời khắc khó khăn để tái khám phá mối dây huynh đệ nối kết chúng ta với người khác, với một niềm tin tưởng sâu sắc rằng con người cần và có khả năng đạt được điều gì lớn hơn là việc tối đa hoá lợi ích cá nhân. Trên hết, các nhân đức này cần thiết để xây dựng và giữ gìn một xã hội hợp với phẩm giá con người.

Tình huynh đệ dập tắt chiến tranh

7.
 Trong năm qua, nhiều anh chị em của chúng ta tiếp tục phải gánh chịu kinh nghiệm huỷ hoại của chiến tranh, gây nên một vết thương sâu và nghiêm trọng ảnh hưởng đến tình huynh đệ. Nhiều cuộc xung đột đang diễn ra giữa sự thờ ơ chung. Với những anh chị em đang sống trong những vùng đất nơi đó vũ khí áp đặt khủng bố và sự huỷ diệt, tôi đảm bảo sự gần gũi cá nhân tôi và sự gần gũi của toàn thể Giáo hội, sứ mạng của Giáo hội là mang tình yêu của Chúa Kitô đến với những nạn nhân không có khả năng tự vệ, bị lãng quên bởi chiến tranh thông qua lời cầu nguyện cho sự hòa bình, qua sự phục vụ cho những người bị thương tích, đói kém, di dân, những người phải thay đổi nơi ở và tất cả những người đang sống trong sợ hãi. Giáo hội cũng sẽ lên tiếng để giúp các vị lãnh đạo lắng nghe được tiếng khóc than của những người đang gặp đau khổ và đặt một dấu chấm hết cho mọi hình thức của hận thù, lạm dụng và bạo lực đối với các quyền nền tảng của con người.[15]

Vì lý do này, tôi mạnh mẽ khuyến cáo những ai gieo rắc bạo lực và cái chết bằng sức mạnh của vũ khí: Trong con người mà hôm nay bạn chỉ thấy đơn thuần là một kẻ thù bị đánh đập, hãy khám phá ra rằng họ là anh chị em của bạn, và hãy ôm họ vào vòng tay bạn! Hãy từ bỏ những con đường của vũ khí và đi ra ngoài để gặp gỡ người khác trong đối thoại, tha thứ và hòa giải, để tái xây dựng hoà bình, tin tưởng và hy vọng xung quanh bạn! “Từ quan điểm này, rõ ràng là, đối với các dân tộc trên thế giới, xung đột vũ trang luôn luôn là một sự phủ định có chủ ý đối với sự hòa hợp quốc tế, và tạo ra sự chia rẽ sâu sắc và những vết thương sâu đòi hỏi nhiều năm để chữa lành. Chiến tranh là một sự khước từ cụ thể trong việc theo đuổi các mục tiêu kinh tế và xã hội to lớn mà cộng đồng quốc tế đã đề ra."[16]

Dầu vậy, bao lâu vẫn còn lượng vũ khí rất lớn đang lưu hành như hiện nay, những cái cớ mới có thể luôn được tìm thấy để bắt đầu hận thù. Vì lý do này, chính bản thân tôi cũng như các vị tiền nhiệm của tôi khẩn khoản mời gọi hạn chế sử dụng vũ khí giết người hàng loạt và các bên cần giải trừ quân bị, bắt đầu với việc giải trừ vũ khí hạt nhân và hoá học.

Tuy chúng ta không thể không nhận ra rằng các thoả thuận và các luật lệ quốc tế - là điều cần thiết và rất đáng ao ước - nhưng tự chúng không đủ để bảo vệ con người ra khỏi những rủi ro của xung đột vũ trang. Một cuộc hoán cải con tim cần thiết sẽ cho phép mỗi người nhận ra nơi người khác là người anh người chị cần chăm sóc, và để cùng làm việc với nhau trong việc xây dựng một đời sống viên mãn cho mọi người. Chính tinh thần này đã gợi hứng cho nhiều sáng kiến trong xã hội dân sự, bao gồm các tổ chức tôn giáo trong việc thăng tiến hòa bình. Tôi bày tỏ hy vọng rằng các cam kết hằng ngày sẽ tiếp tục đơm hoa kết trái và áp dụng hiệu quả trong luật pháp quốc tế về quyền đối với hòa bình, như là một quyền cơ bản của con người và điều kiện tiên quyết cần thiết cho tất cả các quyền khác.

Tham nhũng và tội ác có tổ chức đe doạ tình huynh đệ

8. Chiều kích huynh đệ là điều cần thiết cho sự hoàn thiện của mỗi người nam và nữ. Những tham vọng hợp lý của con người, đặc biệt nơi những người trẻ, không nên bị cản trở hay chống đối, người ta cũng không nên bị cướp đi niềm hy vọng hiện thực hoá những tham vọng này. Dầu vậy, tham vọng không được lẫn lộn với việc lạm dụng quyền lực. Trái lại, mọi người cần thương mến nhau với tình huynh đệ (x. Rm 12,10). Trong những bất đồng, là điều không thể tránh khỏi trong cuộc sống, chúng ta luôn nhớ rằng chúng ta là anh chị em, và do đó cần khuyên nhủ người khác và khuyên nhủ nhau để không xem tha nhân là kẻ thù hay một địch thủ cần bị loại trừ.

Tình huynh đệ tạo ra bình an cho xã hội bởi vì nó tạo ra một sự quân bình giữa tự do và công bằng, giữa trách nhiệm cá nhân và liên đới, giữa lợi ích cá nhân và ích chung. Và vì thế, một cộng đồng chính trị cần hoạt động trong một cách thức rõ ràng và trách nhiệm để hỗ trợ cho điều này. Các công dân phải cảm thấy mình là người đại biểu của chính quyền công cộng liên quan đến tự do của mình. Nhưng lợi ích của các bên đã chen vào giữa công dân và các tổ chức và phá vỡ mối quan hệ đó, điều này đã thúc đẩy tạo ra một bầu khí xung đột lâu dài.

Một tình huynh đệ đích thực vượt qua sự ích kỷ cá nhân, điều vốn xung đột với khả năng con người sống trong tự do và hoà hợp với nhau. Sự ích kỷ như thế phát triển về mặt xã hội - cho dẫu nó ở dưới nhiều hình thức của tham nhũng, rất phổ biến ngày nay, hay trong sự huấn luyện của các tổ chức tội ác, từ những nhóm nhỏ đến những nhóm được tổ chức trên phạm vi toàn cầu. Các nhóm này phá vỡ các luật lệ và công bình, đụng chạm đến trái tim của phẩm giá con người. Các tổ chức này chống lại Thiên Chúa một cách nghiêm trọng, họ làm tổn thương người khác và làm hại đến công trình sáng tạo, điều này càng nghiêm trọng hơn khi chúng có âm điệu tôn giáo.

Tôi cũng nghĩ về thảm kịch đau lòng về việc lạm dụng thuốc nhằm mang về lợi nhuận mà xem thường các luật luân lý và dân sự. Tôi nghĩ về sự tàn phá các nguồn lực tự nhiên và sự ô nhiễm vẫn còn tiếp diễn, và thảm kịch bóc lột lao động. Tôi cũng nghĩ đến nạn buôn tiền bất hợp pháp và sự đầu cơ tài chính, là điều thường minh chứng cho việc bóc lột cũng như gây thiệt hại cho toàn thể hệ thống kinh tế xã hội. Tôi nghĩ về tệ nạn mãi dâm, mỗi ngày thu lợi từ những nạn nhân vô tội, đặc biệt là người trẻ, cướp đi tương lai của họ. Tôi nghĩ về sự kinh tởm của nạn buôn người, các tội ác, và lạm dụng chống lại các dân tộc thiểu số, nỗi kinh hoàng của tình trạng nô lệ vẫn con hiện diện ở nhiều nơi trong thế giới hôm nay; thảm kịch của người di dân thường bị xem nhẹ, họ là những nạn nhân thường xuyên của việc đối xử bất công và bất hợp pháp. Như Đức Thánh Cha Gioan XXIII đã viết: “Con người không thể tồn tại trong một xã hội chỉ dựa trên các mối tương quan quyền lực. Thay vì khích lệ sự thành tựu và phát triển của con người như nó nên làm, quyền lực thường cản trở và hạn chế tự do của con người.”[17] Nhưng con người có thể hoán cải; họ sẽ không bao giờ phải thất vọng vì họ có thể thay đổi cuộc sống của mình. Tôi ước mong điều này trở thành một sứ điệp hy vọng và tin tưởng cho mọi người, kể cả những ai đang phạm những tội ác tày trời, vì Thiên Chúa không muốn tội nhân phải chết, nhưng muốn họ hoán cải và được sống (x. Ed 18,23).

Trong bối cảnh rộng lớn của các mối liên hệ xã hội, khi chúng ta nhìn vào tội ác và hình phạt, chúng ta không thể giúp gì ngoại trừ việc nghĩ về những điều kiện thiếu tình thương trong các nhà tù, nơi đó, những người bị giam giữ thường bị giản lược vào một tình trạng không giống người (subhuman status), vi phạm đến phẩm giá con người và cướp khỏi họ niềm hy vọng và khao khát phục hồi. Giáo hội đã dấn thân nhiều trong môi trường này, hầu như là trong thầm lặng. Tôi khích lệ mọi người tiếp tục dấn thân, và hy vọng rằng những nỗ lực được thực hiện trong môi trường này của biết bao nhiêu người nam và người nữ đầy can đảm sẽ dần được các chính quyền dân sự hỗ trợ trong sự công bằng và chân thật.

Tình huynh đệ giúp giữ gìn và nuôi dưỡng tự nhiên
9. Gia đình nhân loại đã đón nhận một quà tặng chung từ Đấng Sáng Tạo: đó là tự nhiên. Quan điểm Kitô giáo về sáng tạo bao hàm một lối đánh giá tích cực về những can thiệp hợp lý vào tự nhiên nếu những sự can thiệp này đem lại lợi ích và được thực thi với tinh thần trách nhiệm, nghĩa là ý thức về “ngữ pháp” được khắc ghi trong tự nhiên và sử dụng một cách khôn ngoan các nguồn lực để mang lại lợi ích cho hết thảy mọi người, trong sự tôn trọng vẻ đẹp, cùng đích và sự hữu ích của mọi hữu thể sống và vị trí của nó trong hệ sinh thái. Tóm lại, tự nhiên được dành sẵn cho chúng ta và chúng ta được mời gọi để trở nên một người quản lý đầy trách nhiệm trên nó. Nhưng quá thường xuyên, bị thúc đẩy bởi lòng tham và khao khát thống trị, sở hữu, sử dụng và khai thác; chúng ta không gìn giữ tự nhiên, chúng ta cũng không tôn trọng hay xem tự nhiên như một quà tặng nhưng không mà chúng ta cần phải chăm sóc và dành để phục vụ cho anh chị em mình, kể cả thế hệ tương lai.

Cụ thể, lĩnh vực nông nghiệp là lĩnh vực sản xuất quan trọng nhất, với ơn gọi quan trọng là nuôi dưỡng và bảo vệ các nguồn lực tự nhiên để nuôi sống con người. Trong lĩnh vực này, nỗi hổ thẹn về nạn đói vẫn tiếp diễn khiến tôi muốn chia sẻ với anh chị em câu hỏi này: Chúng ta đang sử dụng các nguồn lực của trái đất này như thế nào? Các xã hội đương đại cần phản tỉnh về trật tự ưu tiên mà sản phẩm hướng đến. Nó là một nhiệm vụ thực sự áp lực để sử dụng các nguồn lực trên trái đất này sao cho mọi người được giải phóng khỏi nạn đói. Các sáng kiến và các giải pháp khả thi thì rất nhiều, và không chỉ giới hạn trong việc gia tăng sản phẩm. Ai cũng biết rằng sản phẩm hiện nay đang đủ dùng, nhưng một tỉ người tiếp tục chịu đau khổ và chết vì đói, và đây là một điều đáng xấu hổ thực sự. Vì vậy, chúng ta cần tìm kiếm những con đường mà ngang qua đó mọi người có thể hưởng được ích lợi từ hoa trái của đất đai, không chỉ để tránh sự gia tăng khoảng cách giữa người có nhiều hơn và những người hài lòng với những mảnh vụn của mình, nhưng trên hết nó là vấn đề công bình, bình đẳng và tôn trọng mỗi người. Liên quan đến vấn đề này, tôi ước mong nhắc nhở mọi người về mục đích chung tất yếu của tất cả tài sản là một trong những nguyên lý nền tảng trong học thuyết xã hội của Giáo hội. Tôn trọng nguyên lý này chính là điều kiện thiết yếu giúp người ta dễ dàng hơn trong việc tiếp cận với những tài sản thiết yếu và quan trọng, là điều mọi người cần và là quyền lợi của mỗi người nam và người nữ.

Kết luận

10. Tình huynh đệ cần được khám phá, yêu mến, kinh nghiệm công bố và làm chứng. Nhưng chỉ có tình yêu, là một quà tặng từ Thiên Chúa, mới có thể giúp chúng ta đón nhận và kinh nghiệm một cách trọn vẹn tình huynh đệ này.

Chủ nghĩa duy thực thiết yếu là điều phù hợp với chính trị và kinh tế không thể được giảm thiểu đến những bí quyết kỹ thuật đầy lý tưởng mà không quan tâm đến chiều kích siêu việt của con người. Khi thiếu việc mở ra với Thiên Chúa, mỗi hoạt động của con người trở nên nghèo nàn và con người bị giản lược thành đối tượng có thể bị khai thác. Chỉ khi các thể chế chính trị và kinh tế mở ra để chuyển động trong một không gian rộng lớn được đảm bảo bởi Đấng duy nhất yêu mến mỗi người nam và người nữ, khi ấy chúng mới có thể đạt được một trật tự đặt nền tảng trên tinh thần đức ái đích thực và trở nên những khí cụ hữu hiệu trong việc phát triển hội nhất và hoà bình của nhân loại.

Chúng ta, những người Kitô hữu tin rằng trong Giáo hội, chúng ta là các chi thể của một thân thể duy nhất, hỗ trợ nhau, bởi vì mỗi người được trao ban một ân sủng theo tiêu chuẩn quà tặng của Đức Kitô, vì lợi ích chung (x. Ep 4,7.25; 1 Cr 12,7). Đức Kitô đã đến thế gian để mang cho chúng ta ân sủng thần linh, nghĩa là khả năng chia sẻ đời sống trong Ngài. Điều này đòi hỏi một sự thêu dệt một cơ cấu các mối tương quang huynh đệ được đánh dấu bởi mối tương quan hỗ tương, sự tha thứ và sự trao ban trọn vẹn, theo chiều sâu và chiều rộng của tình yêu Thiên Chúa được trao ban cho con người nơi Đấng duy nhất, đã chịu chết và sống lại, để lôi cuốn mọi người đến với Ngài: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng yêu thương nhau.” (Ga 13, 34-35). Đây chính là một tin tốt lành đòi hỏi mỗi người bước về phía trước, thực thi lòng thương xót vô hạn, lắng nghe những đau khổ cũng như hy vọng của người khác, kể cả những người ở xa tôi, và bước đi trên con đường đầy đòi hỏi của tình yêu, một tình yêu biết trao ban và tiêu tốn chính mình một cách tự do cho lợi ích của anh chị em chúng ta.

Đức Kitô ôm trọn tất cả nhân loại và mong muốn không ai bị hư mất. “Thật vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của người, mà được cứu độ.” (Ga 3,17). Ngài làm điều ấy mà không đàn áp hay cưỡng bức bất cứ ai mở cánh cửa trái tim và tâm hồn ra với Ngài. “Anh em thì không như thế, trái lại, ai lớn nhất trong anh em, thì phải nên như người phục vụ. Bởi lẽ, giữa người ngồi ăn với kẻ phục vụ, ai lớn hơn ai? Hẳn là người ngồi ăn chứ? Thế mà, Thầy đây, Thầy sống giữa anh em như một người phục vụ.” (Lc 22, 26-27). Do đó, mọi hành động cần được nhận ra bởi thái độ phục vụ con người, đặc biệt là những người ở xa nhất và không được biết đến. Phục vụ chính là linh hồn của tình huynh đệ, điều xây dựng hoà bình.

Lạy Mẹ Maria, Mẹ Chúa Giêsu, xin giúp chúng con hiểu và sống mỗi ngày tình huynh đệ xuất phát từ trái tim Con Mẹ, để chúng con mang bình an đến với mỗi người trên trái đất thân yêu của chúng con.

Từ Vatican, 8 tháng 12 năm 2013
Phanxicô, Giáo hoàng

----------------------

[1] x. Thông điệp Caritas in Veritate (29 tháng 6 năm 2009), 19: AAS 101 (2009), 654-655.
[2] x. ĐTC Phanxicô, Thông điệp Lumen Fidei (29 tháng 6 2013), 54: AAS 105 (2013), 591-592.
[3] x. ĐTC Phaolô VI, Thông điệp Populorum Progressio (26 tháng 3 năm 1967), 87: AAS 59 (1967), 299.
[4] x. ĐTC Gioan Phaolô II, Thông điệp Sollicitudo rei Socialis (30 tháng 12 năm 1987), 39: AAS 80 (1988), 566-568.
[5] Thông điệp Populorum Progressio (26 tháng 3 năm 1967), 43: AAS 59 (1967), 278-279).
[6] x. ibid., 44: AAS 59 (1967), 279.
[7] Thông điệp Sollicitudo rei Socialis (30 tháng 12 năm 1987), 38: AAS 80 (1988), 566.
[8] Ibid., 38-39: AAS 80 (1988), 566-567.
[9] Ibid., 40: AAS 80 (1988), 569.
[10] Ibid.
[11] x. Thông điệp Caritas in Veritate (29 tháng 5 năm 2009), 19: AAS 101 (2009), 654-655.
[12] Summa Theologiae II-II, q. 66, art. 2.
[13] Conc. Ecum. Vat. II, Cost. past. sulla Chiesa nel mondo contemporaneo Gaudium et spes, 69. Cfr Leone XIII, Lett. enc. Rerum novarum (15 maggio 1891), 19: ASS 23 (1890-1891), 651; Giovanni Paolo II, Lett. enc. Sollicitudo rei Socialis (30 dicembre 1987), 42: AAS 80 (1988), 573-574; Pontificio Consiglio della Giustizia e della Pace, Compendio della Dottrina sociale della Chiesa, n. 178.
[14] Thông điệp Redemptor Hominis (4 tháng 3 năm 1979), 16: AAS 61 (1979), 290.
[15] Uỷ ban Công lý và Hoà bình, Tóm lược Giáo thuyết Xã hội Công giáo, số 159.
[16] ĐTC Phanxicô, Thử gửi Tổng thống Putin, 4 tháng 9 năm 2013: L’Osservatore Romano, 6 tháng 9 năm 2013, trang 1.
[17] Thông điệp Pacem in Terris (11 tháng 4 năm 1963), 17: AAS 55 (1963), 265.


Nguyễn Minh Triệu, SJ, chuyển ngữ

(Nguồn: R. Vatican)

ĐHY Chủ tịch Hội đồng Toà Thánh về Hiệp nhất Kitô giáo thăm nước Nga

08:20 |


WHĐ (15.12.2013) – Hôm qua thứ bảy 14-12-2013, Đức Hồng y Kurt Koch, Chủ tịch Hội đồng Toà Thánh về Hiệp nhất Kitô giáo, đã bắt đầu chuyến viếng thăm nước Nga kéo dài 5 ngày. Chuyến viếng thăm này được coi là một mốc quan trọng trên lộ trình hướng tới hoà giải giữa hai Giáo hội Công giáo và Chính thống giáo Nga. Đức Hồng y Koch sẽ lưu lại Sankt-Peterburg và Moskva, thăm viếng các cộng đồng Công giáo nhỏ tại đây, đồng thời gặp gỡ các giám mục, linh mục và chủng sinh Chính thống giáo Nga.



Vào ngày cuối, thứ Tư 18-12, Đức Hồng y Koch sẽ hội đàm với Thứ trưởng Bộ ngoại giao Nga. Tại ngôi nhà thờ chính toà lịch sử của Moskva, Nhà thờ Chúa Kitô Cứu Thế, Đức Hồng y Koch cũng sẽ gặp Đức Thượng phụ Kirill - Thượng phụ Moskva và toàn Nga; cùng với Trưởng giáo chủ Hilarion Alfeyev - Chủ tịch Ban đối ngoại của Toà Thượng phụ Nga.

Cùng đi với Đức Hồng y Koch có Cha Hyacinthe Destivelle, Dòng Đa Minh, nguyên quản nhiệm Vương cung Thánh đường Thánh Catarina ở Sankt-Peterburg và hiện đang đứng đầu Văn phòng Liên lạc với Giáo hội Chính thống Nga thuộc Hội đồng Toà Thánh về Hiệp nhất Kitô giáo.

Ngoài các cuộc gặp gỡ, Đức hồng y Koch cũng sẽ chủ trì một Hội nghị về các quan hệ giữa Công giáo và Chính thống giáo từ sau Công đồng Vatican II tại Viện Thần học Sankt-Peterburg, và đến thăm Tu viện Alexander Nevsky, nhân dịp kỷ niệm 300 năm thánh hiến tu viện vào năm nay. Cuối cùng, Đức Hồng y Chủ tịch Hội đồng Toà Thánh về Hiệp nhất Kitô giáo sẽ chủ sự lễ kỷ niệm Năm Thánh của Vương cung Thánh đường Thánh Catarina ở Sankt-Peterburg.

Cần nhắc lại rằng hồi tháng 3-2011, Đức Hồng y Koch đã gặp Đức Thượng phụ Kirill lần đầu tiên tại Moskva. Ngài bày tỏ sự hài lòng về việc các nhà lãnh đạo của hai Giáo hội đều có cùng một quan điểm ​​về các vấn đề luân lý.

(Tổng hợp từ Vatican Radio, Pháp ngữ và Anh ngữ)

Minh Đức

Nguồn: WH

Sứ điệp đầu tiên của Đức Thánh Cha Phanxicô nhân Ngày Thế giới Hoà bình

21:32 |
VATICAN - Sáng ngày 12-12-2013, Sứ điệp đầu tiên của ĐTC Phanxicô nhân Ngày Thế giới Hoà bình lần thứ 47 đã được công bố về chủ đề tài "Tình huynh đệ, nền tảng và là con đường tiến tới hoà bình".

ĐHY Peter Turkson, Chủ tịch Hội đồng Toà Thánh Công lý và Hoà bình, đã cùng với Đức cha Tổng Thư ký Mario Toso, SDB, giới thiệu Sứ điệp của ĐTC trong cuộc họp báo tại Phòng Báo chí Toà Thánh.

Văn kiện này được giới báo chí chào mừng như một tổng hợp đạo lý của ĐTC Phanxicô về xã hội, qua đó ngài kêu gọi tái khám phá tình huynh đệ trong gia đình, trong nền kinh tế và trong tương quan của các dân tộc với nhau. Ngài khẳng định rằng "nếu không có tình huynh đệ thì không thể xây dựng một xã hội công chính và một nền hoà bình liên đới và lâu bền".

Trong sứ điệp, ĐTC cũng mạnh mẽ kêu gọi những kẻ gieo rắc bạo lực và chết chóc hãy từ bỏ con đường vũ khí, đồng thời ngài cũng lên án nạn tham nhũng, nạn mafia hay là tội phạm có tổ chức.

Sứ điệp được phổ biến bằng 11 thứ tiếng, trong đó có cả tiếng Ảrập và Nga, Hindi và Tamil của Ấn Độ, không kể các ngôn ngữ chính ở Tây phương. Ngoài đoạn nhập đề và kết luận, Sứ điệp còn được chia làm 8 đoạn khác với những tiểu đề: "Cain, em ngươi ở đâu?” (St 4,9) (1), "Tất cả các con là anh em với nhau" (Mt 23,8) (2); "Tình huynh đệ, nền tảng và con đường dẫn đến hoà bình" (3); "Tình huynh đệ, tiền đề để chiến thắng nghèo đói" (5); "Tái khám phá tình huynh đệ trong nền kinh tế" (6); "Tình huynh đệ dập tắt chiến tranh" (7); "Nạn tham ô và tội ác có tổ chức cản trở tình huynh đệ" (8) và sau cùng: "Tình huynh đệ giúp bảo tồn và vun trồng thiên nhiên" (9).

Trình bày của ĐHY Turkson

ĐHY Turkson nhận xét: "Trong sứ điệp này, ĐTC tự hỏi tại sao trong thế giới ngày nay có sự thiếu thốn trầm trọng tình huynh đệ như vậy? Tại sao lòng ích kỷ làm cho chúng ta trở nên mù quáng trước tình huynh đệ không thể thiếu được như thế? Phải chăng sự sợ hãi và cạnh tranh đã gây nhiễm độc cho phẩm giá khôn sánh của chúng ta là con cái Thiên Chúa, làm ô nhiễm quan hệ giữa anh chị em với nhau?"

ĐHY Chủ tịch Hội đồng Toà Thánh Công lý và Hoà bình nêu bật một số điểm trong sứ điệp của ĐTC Phanxicô. Ngài suy tư về người nghèo, về hoà bình, về thiên nhiên dưới một tựa đề bao quát và đầy ý nghĩa, đó là "tình huynh đệ". Ngài cũng mời gọi chúng ta suy tư, cầu nguyện và hành động theo xác tín và niềm tin. Những điều xúc phạm đến tình huynh đệ tạo thành một danh sách thật dài, danh sách đau buồn và ô nhục. Sau mỗi tội ác sát nhân của con người, Thiên Chúa kêu lên: "Em ngươi ở đâu?" Con tim ích kỷ và tội lỗi đáp lại: "Tôi có phải là người canh giữ em tôi đâu!" Trong khi đó con tim huynh đệ trả lời với lòng biết ơn: "Cám ơn Cha, vì đã làm cho con trở thành người canh giữ các anh chị em con! Cám ơn Cha vì đã làm cho họ trở thành những người canh giữ con!"

Đoạn thứ 5 và thứ 6 của Sứ điệp được ĐTC dành để nói về nền kinh tế và trình bày một số phương dược thực sự để chữa trị nghèo đói. Ngài nhận xét rằng những chênh lệch kinh tế chính là kẻ thù của hoà bình. "Những cuộc khủng hoảng kinh tế nối tiếp nhau phải làm cho những người hữu trách suy nghĩ lại những kiểu mẫu phát triển kinh tế."

Sự cộng tác trong việc theo đuổi công ích phải thay thế sự cạnh tranh tai hại làm cho tất cả mọi người đều lâm vào tình trạng rủi ro nguy hiểm.

Các quan hệ huynh đệ cũng phải được biểu lộ trong các chính sách xã hội, tạo điều kiện cho mọi người dân được hưởng an sinh và sung túc; các quan hệ ấy cũng phải diễn tả trong một lối sống điều độ hơn, giới hạn vào những điều thiết yếu; và trên bình diện rộng lớn hơn, cần "mau lẹ suy nghĩ lại những kiểu mẫu phát triển kinh tế của chúng ta".

Trong đoạn thứ 7 và thứ 8 của Sứ điệp, ĐTC trình bày những ý tưởng nhắm giúp giảm bớt và loại trừ chiến tranh đủ mọi loại, cũng như loại trừ nạn tham ô và tội các có tổ chức. Tình huynh đệ chiến thắng thái độ dửng dưng lãnh đạm, dửng dưng đứng trước bao nhiêu chiến tranh. Tình huynh đệ chiến thắng xu hướng coi kẻ thù không phải là người, coi họ là ma quỷ. Tình huynh đệ thúc đẩy làm việc cam go cần thiết để đạt tới mục tiêu không làm cho vũ khí lan tràn, giải giáp, kể cả việc giải trừ các vũ khí hạt nhân, vũ khí hoá học, quy ước và các vũ khí gọi là 'thông minh' và vũ khí nhẹ.

ĐTC viết: "Tôi lặp lại lời kêu gọi của các vị tiền nhiệm về việc không làm lan tràn vũ khí và giải giáp từ phía tất cả mọi người, bắt đầu là vũ khí hạt nhân và hoá học... Bao lâu vẫn còn số lượng vũ khí lớn như thế được lưu hành như ngày nay, thì người ta sẽ luôn tìm ra những cớ mới để khởi sự chiến tranh."

ĐTC khẳng định: "Tôi muốn mạnh mẽ kêu gọi những người đang dùng vũ khí gieo rắc bạo lực và chết chóc: họ hãy tái khám phá người anh em nơi người mà ngày nay họ chỉ coi là một kẻ thù phải triệt hạ và hãy dừng tay lại. Hãy từ bỏ con đường vũ khí và đi gặp tha nhân trong cuộc đối thoại, tha thứ và hoà giải, để xây dựng công lý, sự tín nhiệm và hy vọng quanh chúng ta."

Trong các cuộc xung đột xã hội, tình huynh đệ chống lại nạn tham nhũng, mafia, buôn bán ma tuý, nạn nô lệ, buôn người, mại dâm và những hình thức gọi là "chiến tranh kinh tế và tài chính" huỷ hoại sự sống, các gia đình và các hoạt động doanh nghiệp.

Trong đoạn số 9 của Sứ điệp, ĐTC nói đến một nhu cầu cấp thiết là phải bảo tồn và vun trồng thiên nhiên như thể đó là căn nhà trần thế của chúng ta và là nguồn mạch mọi thiện ích vật chất, bây giờ và cho các thế hệ tương lai. Trong tinh thần huynh đệ, chúng ta phải họ cách xử lý môi trường thiên nhiên như một món quà của Đấng Tạo Hoá, một món quà cần được hưởng chung, một cách nhưng không và công bằng. Canh nông sản xuất trong tinh thần trách nhiệm, và các xí nghiệp kiểm soát sự phân phối đúng đắn, và tránh phí phạm, đó là những cách biểu lộ tình huynh đệ cần thiết trong thế giới ngày nay.

Trình bày của Đức cha Mario Toso, SDB

Hiện diện trên bàn chủ toạ cuộc họp báo cũng có Đức cha Mario Toso, Dòng Don Bosco, Tổng Thư ký Hội đồng Toà Thánh Công lý và Hoà bình. Ngài nêu nhận xét về những đoạn đầu của Sứ điệp, qua đó ĐTC khẳng định rằng tình huynh đệ nói lên liên hệ tính của con người và hướng tới sự viên mãn của con người. Xét vì tình huynh đệ có tính chất nội tại nơi con người, ảnh hưởng lớn tới cuộc sống và hoạt động của con người, nên nó là điều tối quan trọng để kiến tạo một xã hội công chính và an bình. Nếu không có tình huynh đệ, thì thật là khó lòng chấp nhận và hoà hợp những khác biệt hợp pháp, sống tha thứ và hoà giải, và chắc chắn là rất khó bài trừ nạn tham những lan tràn, việc trốn thuế vì ích kỷ, việc loại trừ và bất công trong các cơ cấu xã hội, cũng như rất khó bài trừ sự "toàn cầu hoá thái độ dửng dưng" và phá đổ thần tượng tiền bạc, chế độ độc tài của một nền kinh tế vô nhân đạo và không có mục tiêu thực sự là nhân bản. Đó cũng là những tai ương và tệ nạn mà ĐTC Phanxicô đã tố giác trong Tông huấn "Niềm vui Phúc Âm".

Đức cha Toso cũng nhận xét rằng trong Sứ điệp Hoà bình, ĐTC chỉ trình bày một số con đường có thể dẫn đến hoà bình, xuất phát từ sự đón nhận và liên kết nguyên tắc huynh đệ. Những con đường này đi qua các lĩnh vực quan trọng như nạn nghèo đói, kinh tế, nạn tham nhũng, chiến tranh và thiên tai. Trong các lĩnh vực ấy, ĐTC chỉ đường, nêu lên phương pháp cần theo và có thể áp dụng chúng cho một số vấn đề khác, nhờ đào sâu, nghiên cứu và thí nghiệm. ĐTC kêu gọi dấn thân mạnh mẽ về phương diện văn hoá, sư phạm và quan điểm, cần có sự động viên của cộng đoàn, khởi hành từ việc loan báo Tin Mừng, hoán cải và giáo dục ở mọi cấp độ, từ tiểu học cho đến đại học.

Trong Sứ điệp, ĐTC kêu gọi cảnh giác đối với thứ tình huynh đệ không tham chiếu siêu việt, thứ huynh đệ này sẽ không tồn tại được. Con người và xã hội nào loại bỏ Thiên Chúa và không nhìn nhận Ngài đang sống giữa họ, thì khó lòng nhìn nhận nhau và sống với nhau như con của cùng một Cha. Tiếp đến, ĐGH Phanxicô nêu rõ rằng đối với mỗi ngừơi và mỗi xã hội, việc đạt tới kinh nghiệm về tình phụ tử của Thiên Chúa, và từ đó đạt tới tình huynh đệ, sẽ trở nên dễ dàng hơn nhờ đón nhận Chúa Giêsu Kitô là Ađam mới, được hoà giải với Thiên Chúa, Đấng cứu chuộc mỗi người với mọi chiều kích của họ, kể cả lý trí được tăng cường hơn. Nhờ sự nhập thể, sự chết và sống lại, Chúa Giêsu gieo vãi trong lịch sử và nơi tâm hồn con người một tình người huynh đệ hơn, vì hoàn toàn hiệp thông với Thiên Chúa và nhờ đó có khả năng nhìn nhận và sống tình huynh đệ với những người đồng loại và sống với thiên nhiên trên một bình diện khác.

Đức cha Toso nêu rõ một nhận xét của ĐTC trong sứ điệp, đó là trong thế giới toàn cầu hoá của chúng ta, có sự gia tăng giàu có và tài nguyên, nhưng đồng thời cũng có sự gia tăng sự chênh lệch và nghèo đói tương đối. Gia đình nhân loại bị chia thành những dân tộc và các nhóm, trong đó một thiểu số ngày càng giàu hơn, trong khi đa số khác ngày càng có nguy cơ bị gạt ra ngoài lề. Tình trạng di cư gia tăng mạnh mẽ, kèm theo những hiện tượng đau buồn như nạn buôn người, một số kẻ lợi dụng tình trạng tuyệt vọng của những người khác để làm giàu không chút băn khoăn, do dự và nhiều khi gây ra cái chết cho các nạn nhân.

Ngoài những cuộc chiến bằng vũ khí, còn có những cuộc chiến tranh khác ít tỏ tường hơn, nhưng không kém phần tàn ác: nó diễn ra trong lĩnh vực kinh tế, tài chính, bằng những phương thế tàn hạn không kém đối với con người, gia đình, xí nghiệp. Chế độ thực dân xưa kia nay được thay thế bằng những chế độ mới, buộc các nước khác phải tùng phục về kinh tế và chính trị, với những cuộc khai thác bóc lột đất đai và khoáng sản, từ phía các quốc gia hoặc các xí nghiệp nước ngoài, mà dân chúng địa phương không được hưởng các tài nguyên thiên nhiên của đất nước họ; tệ hơn nữa, đất đai và môi trường sống của họ bị ô nhiễm. Tất cả sự chênh lệch, nghèo đói và bất công đó không những cho thấy việc thiếu văn hoá liên đới, mà còn là dấu hiệu chứng tỏ việc thiếu tình huynh đệ, tạo nên tình trạng nghèo nàn về mối quan hệ. Vì thế, để có thể sống hoà hợp và an bình, nhân loại chúng ta cần có thêm tình huynh đệ được cảm nghiệm, tôn trọng gia đình là tế bào của xã hội, vốn là một nguồn mạch vô tận (1).


G. Trần Đức Anh OP

(Nguồn: R. Vatican)

Time bình chọn ĐGH Phanxicô là Nhân vật của Năm

21:30 |
WHĐ (12.12.2013) – Tạp chí Time, nổi tiếng trong giới truyền thông thế giới, vừa công bố đã bình chọn Đức giáo hoàng Phanxicô là “Nhân vật của năm” năm 2013. Trước đó, hai vị tiền nhiệm của ngài cũng đã nhận vinh dự này: Đức Gioan XXIII vào năm 1962 và Đức Gioan Phaolô II vào năm 1994.

Cha Federic Lombardi, S.J., Giám đốc Phòng Báo chí Tòa Thánh đưa ra nhận định sau đây:
“Đây không phải là điều bất ngờ vì từ khi được bầu chọn làm giáo hoàng, Đức Thánh Cha Phanxicô đã được chú ý và tạo nên những tiếng vang lớn. Thực ra một trong những giải thưởng cao quý của báo chí quốc tế dành cho một nhân vật không ngừng thăng tiến những giá trị tinh thần, tôn giáo và luân lý cũng như kiên quyết kêu gọi hòa bình và gia tăng công bằng là một tín hiệu tích cực. Cá nhân Đức Thánh Cha không phải là người mưu tìm công danh, vì ngài đã tận hiến cuộc đời của mình cho sứ vụ rao giảng Phúc Âm của Tình Yêu Thiên Chúa dành cho nhân loại. Điều làm cho Đức Thánh Cha cảm thấy hài lòng là sứ vụ này lôi cuốn mọi người nam cũng như nữ, và có thể đem lại hy vọng cho họ. Và nếu việc bình chọn “Nhân vật của năm” năm nay có nghĩa là có nhiều người hiểu được sứ điệp này - ít là mặc nhiên như thế - thì Đức Thánh Cha thực sự vui mừng”.
Từ năm 1927, hằng năm tạp chí Time đều bình chọn một nhân vật (hay một tập thể) nổi bật trong năm, hoặc là người tốt nhất hay người tệ nhất.
Người đầu tiên được bình chọn là Nhân vật của năm (1927) là phi công Hoa Kỳ Charles Lindbergh, người đầu tiên thực hiện chuyến bay vượt Đại Tây Dương vào năm 1927. Năm ngoái, Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đã giành được danh hiệu này lần thứ hai. Năm 2011, danh hiệu này thuộc về Người biểu tình trên toàn thế giới, trong đó có những người biểu tình của Mùa xuân Ả Rập và Phong trào Nổi giận.
Năm 2006, Nhân vật của năm chính là Bạn (You) - những người sử dụng internet, đóng góp vào nội dung của mạng lưới điện toán toàn cầu, những người điều khiển, làm chủ thời đại kỹ thuật số, tận dụng sức mạnh của truyền thông và hình thành nền dân chủ kỹ thuật số.
Trong danh sách đề cử Nhân vật của năm năm nay có ông Edward Snowden - cựu chuyên gia phân tích của cơ quan an ninh quốc gia Hoa Kỳ (NSA); bà Edith Windsor - nhà hoạt động cho quyền lợi của người đồng tính, và ông Bashar Al-Assad - Tổng thống Syria.
Thiên Phúc (Tổng hợp)

Đức Giáo hoàng Phanxicô được đề cử Giải Nobel Hoà bình

21:22 |

Hạ viện Argentina thông qua nghị quyết đề cử Đức Giáo hoàng Phanxicô cho Giải Nobel Hoà bình vì lời kêu gọi chấm dứt bạo lực tại Syria của ngài.

Nghị quyết được đa số áp đảo thông qua và đang trình lên Thượng viện phê chuẩn.

Hạ Nghị sĩ Oscar Martinez, người bảo trợ nghị quyết, mô tả Đức Giáo hoàng Phanxicô là “người trong suốt năm nay quyết tâm duy trì hoà bình quốc tế thông qua vị thế của ngài đối với xung đột tại Syria”.

Từ khi được bầu làm Giáo hoàng, Đức Thánh Cha Phanxicô không ngừng kêu gọi hoà bình cho Syria. Ngài đã gửi thư cho Tổng thống Nga Vladimir Putin tại Hội nghị Thượng đỉnh G20, trong đó kêu gọi cộng đồng quốc tế hãy hành động chấm dứt bạo lực tại Syria và bác bỏ mọi can thiệp quân sự.

Xung đột Syria kéo dài hơn hai năm rưỡi, từ khi các cuộc biểu tình nổ ra trên toàn quốc vào ngày 15-3-2011 phản đối sự cai trị của Bashar al-Assad, tổng thống và lãnh đạo Đảng Ba’ath ở Syria.

Tháng 4 cùng năm, quân đội Syria triển khai dập tắt các cuộc nổi dậy, bắn vào người biểu tình. Kể từ đó, bạo lực đã biến thành nội chiến cướp mất hơn 115.000 sinh mạng.

Ít nhất 2,2 triệu người tị nạn Syria ở các nước lân cận, hầu hết trong số họ ở Lebanon, Jordan và Thổ Nhĩ Kỳ.

Thêm 6,5 triệu người Syria được cho là đã di tản vì chiến tranh.


CNA/EWTN News, Argentina 

(Nguồn: UCANews/Catholic News Agency)

Khoá họp thứ hai của Hội đồng 8 Hồng y cố vấn

08:11 |
VATICAN - Sáng ngày 3-12-2013, 8 vị Hồng y cố vấn của ĐTC trong việc cải tổ các cơ quan trung ương Toà Thánh và cai quản Giáo Hội hoàn vũ đã bắt đầu khoá họp thứ hai kéo dài 3 ngày tại Vatican.
Khoá họp thứ nhất đã diễn ra từ ngày 1 đến 3-10 vừa qua, dưới sự điều hợp của ĐHY Oscar Rodriguez Maradiaga, dòng Don Bosco, TGM Giáo phận Tegucigalpa, Honduras. Cũng như lần trước, lần này ĐTC cũng hiện diện trong 3 ngày họp, trừ sáng thứ tư 4-12-2013 vì ngài bận tiếp kiến chung các tín hữu hành hương, hoặc khi ngài có công việc khẩn cấp khác.

Cha Lombardi, Giám đốc Phòng Báo chí Toà Thánh cho biết 8 hồng y đã đồng tế thánh lễ với ĐTC, rồi nhóm họp từ 9 đến 12 giờ rưỡi, sau đó từ 4 đến 7 giờ chiều. Trong thời gian qua, các hồng y đã làm việc riêng, thu thập các ý kiến, đề nghị và các dữ kiện hữu ích cho khoá họp này.

Trong khoá họp lần này, các hồng y cứu xét về các cơ quan trung ương Toà Thánh, đặc biệt là về hoạt động và thẩm quyền của các Bộ tại Toà Thánh. Trong phiên họp sáng ngày 3-12, các vị cứu xét Bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích. Trong khoá họp thứ nhất hồi đầu tháng 10-2013, các vị đã trao đổi về việc cải tổ Thượng HĐGM và Phủ Quốc vụ khanh Toà Thánh.

Trong khoá họp lần này, Đức TGM Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Toà Thánh, cũng được mời tham dự.

Từ lâu vấn để điều chỉnh lại thẩm quyền của các cơ quan trung ương Toà Thánh đã được đề cập đến, để đạt tới hiệu năng hơn và giảm bớt nhân sự và chi phí. Cho đến nay chỉ có 1 phần 3 các vị Tổng trưởng tại Toà Thánh được ĐTC tái bổ nhiệm. Đó là các vị Tổng trưởng Bộ Giáo lý Đức tin, Bộ Truyền giáo, Bộ Giáo dục Công giáo, và Đức TGM Benjamino Stella được bổ làm tân Tổng trưởng Bộ Giáo sĩ. Các vị khác tạm thời tiếp tục công việc và chờ đợi quyết định của ĐTC như ĐHY Tổng trưởng Bộ Giám mục, Bộ các Giáo hội Công giáo Đông phương, Bộ Phụng tự, Bộ Phong thánh và Bộ các Dòng tu. Ngoài ra 10 trong số 12 vị chủ tịch các hội đồng Toà Thánh vẫn chưa được chính thức tái bổ nhiệm.

Theo chương trình dự kiến, Hội đồng 8 hồng y Cố vấn sẽ có khóa họp thứ ba trong 2 ngày 17 và 18-2-2014, trước khi ĐTC tiến hành công nghị bổ nhiệm các hồng y mới vào ngày 22-2-2014 lễ kính Toà Thánh Phêrô.

Cha Lombardi cho biết sẽ có những thay đổi sâu rộng trong các cơ quan trung ương Toà Thánh, một hiến chế mới thay thế Hiến chế Pastor Bonus hiện hành từ năm 1983 về Giáo triều Roma. Tuy nhiên, những thay đổi được đề ra là một chương trình dài hạn, vì thế không nên chờ đợi những kết luận ngay trong thời gian ngắn tới đây. (SD 3-12-2013)


G. Trần Đức Anh OP

(Nguồn: R. Vatican)

Chuẩn bị Giáng Sinh: Hãy để Chúa đến gặp chúng ta

08:08 |
WHĐ (03.12.2013) – Chuẩn bị mừng Lễ Giáng Sinh, Đức Thánh Cha Phanxicô kêu gọi các tín hữu hãy mở lòng ra để gặp Chúa là Đấng đổi mới mọi sự.

Trong bài giảng Thánh lễ thứ Hai Tuần I Mùa Vọng tại nhà nguyện trong Nhà khách Santa Marta, Đức Thánh Cha nhắc nhở rằng chuẩn bị mừng Lễ Chúa Giáng Sinh là đi vào cuộc hành trình của đức tin và cầu nguyện để gặp gỡ Chúa. “Bởi vì Giáng Sinh không chỉ là ngày lễ hội hằng năm hay kỷ niệm một biến cố đẹp. Giáng sinh còn là điều gì đó hơn thế. Giáng Sinh là một cuộc lên đường đi gặp Chúa. Giáng Sinh là một cuộc gặp gỡ. Chúng ta đến gặp Chúa với con tim rộng mở, với cuộc sống của chúng ta. Gặp gỡ Đấng hằng sống, gặp gỡ Người với đức tin của chúng ta.”

Nhưng sống đức tin không phải điều dễ dàng. Nói về viên quan đại đội trưởng trong bài đọc đã có niềm tin lớn lao khi xin Chúa chữa lành cho người đầy tớ của mình, Đức Thánh Cha nói rằng chúng ta giống như viên quan này trong hành trình đức tin “đến gặp Chúa để cho Chúa gặp mình”.

Khi chỉ có chúng ta đến gặp Chúa, có thể nói chúng ta là chủ nhân của cuộc gặp gỡ; nhưng nếu chúng ta để cho Chúa đến gặp chúng ta, chính Người sẽ bước vào cuộc đời chúng ta, chính Người đổi mới chúng ta, và đó là ý nghĩa của việc Chúa Kitô đến: Người đổi mới tâm hồn, cuộc sống, niềm hy vọng của chúng ta.

Với niềm tin - như của viên quan đại đội trưởng - chúng ta lên đường gặp Chúa chính là để Chúa gặp chúng ta.

Không phải lúc nào Chúa cũng nói với chúng ta điều chúng ta muốn nghe, nhưng Người sẽ nói với tôi điều quan trọng đối với tôi “vì Chúa không nhìn chúng ta theo đám đông, Người nhìn vào khuôn mặt, vào đôi mắt của từng người trong chúng ta. Tình yêu của Chúa không phải là một tình yêu trừu tượng, tình yêu ấy cụ thể. Chúa nhìn tôi một cách cá nhân”. Và “để cho Chúa gặp chúng ta có nghĩa là để cho Chúa yêu thương chúng ta”.


Minh Đức

Đức Thánh Cha cho biết năm 2015 sẽ là Năm Đời sống Thánh hiến

08:06 |
VATICAN - Trong buổi gặp gỡ 120 bề trên tổng quyền các dòng nam hôm 29-11-2013, ĐTC Phanxicô loan báo năm 2015 sẽ là Năm Đời sống Thánh hiến.
Hiệp hội các Bề trên Tổng quyền dòng nam nhóm Đại hội lần thứ 82 tại Trung tâm Salesianum của Dòng Don Bosco ở Roma từ ngày 27 đến 29-11-2013. Các vị đã xin được gặp ĐTC như một buổi tiếp kiến, trái lại ngài đã dành cho các vị một cuộc gặp gỡ trao đổi dài 3 tiếng đồng hồ và trả lời những câu hỏi do các bề trên nêu lên, ví dụ về căn tính và sứ mạng của đời sống thánh hiến, tình trạng ơn gọi bị sa sút tại một số nước,...

ĐTC nhận định rằng có những Giáo Hội trẻ đang mang lại những hoa trái mới. Điều này dĩ nhiên buộc phải nghĩ lại việc hội nhập đoàn sủng. Giáo Hội phải xin lỗi và xấu hổ nhìn những thất bại trong việc tông đồ vì những hiểu lầm trong lĩnh vực này, như trường hợp Cha Matteo Ricci ở Trung Quốc (bị cấm không được hội nhập văn hoá). Cuộc đối thoại liên văn hoá phải thúc đẩy việc du nhập trong việc cai quản các dòng tu những người thuộc các nền văn hoá khác nhau diễn tả bằng những cách thức khác nhau cách sống đoàn sủng của dòng.

ĐTC nhấn mạnh rất nhiều về việc đào tạo. Và theo ngài, việc đào tạo này phải dựa trên bốn cột trụ chính là huấn luyện tu đức, trí thức, cộng đồng và tông đồ. Cần tránh mọi hình thức giả hình và duy giáo sĩ, nhờ một cuộc đối thoại thẳng thắn và cởi mở về mọi khía cạnh của đời sống.

ĐTC nói: "Việc huấn luyện là một công trình 'thủ công' chứ không có tính chất 'cảnh sát': mục tiêu là huấn luyện các tu sĩ có một con tim hiền dịu, và không chua như dấm. Tất cả chúng ta là người tội lỗi, nhưng không ung thối. Người ta chấp nhận kẻ tội lỗi nhưng không chấp nhất người ung thối."

Các bề trên cũng hỏi ĐTC về tương quan giữa các tu sĩ với các Giáo hội địa phương nơi các tu sĩ hoạt động. Ngài nói là do kinh nghiệm ngài biết có những vấn đề có thể xảy ra. ĐTC nói: "Các giám mục chúng tôi phải hiểu rằng những người thánh hiến không phải là chất liệu trợ tá, nhưng là những đoàn sủng làm cho các giáo phận được phong phú thêm."

Sau cùng, ĐTC cho biết sẽ dành năm 2015 tới đây là Năm Đời sống Thánh hiến. Khi từ giã các bề trên ngài nói: "Cám ơn anh em về những gì anh em đang làm và về tinh thần đức tin, cũng như sự tìm kiếm phục vụ. Cám ơn vì chứng tá của anh em cũng như vì những tủi nhục mà anh em đã phải trải qua." (SD 29-11-2013)

G. Trần Đức Anh OP

(Nguồn: R. Vatican)

Cuộc họp báo giới thiệu Tông huấn "Eveangelii Gaudium"

08:04 |
Lúc 11 giờ 30 sáng thứ ba 26-11-2013 tại Phòng Báo chí Toà Thánh đã có buổi họp báo giới thiệu Tông huấn "Evangelii Gaudium" (Niềm vui Phúc Âm) của Đức Thánh Cha Phanxicô. Chủ toạ cuộc họp báo có Đức Tổng Giám mục Rino Fisichella, Chủ tịch Hội đồng Toà Thánh về Cổ vũ Tái truyền giảng Tin Mừng, Đức Tổng Giám mục Lorenzo Baldisseri, Tổng Thư ký Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới, và Đức Tổng Giám mục Claudio Maria Celli, Chủ tịch Hội đồng Toà Thánh về Truyền thông Xã hội.

Tông huấn của Đức Thánh Cha khai triển đề tài loan báo Tin Mừng trong thế giới ngày nay bắt đầu với câu "Niềm vui của Tin Mừng tràn ngập con tim và toàn cuộc sống của những người gặp gỡ Đức Giêsu”. Tông huấn là kết quả các đóng góp của các Nghị phụ tham dự Thượng Hội đồng Giám mục về việc tái truyền giảng Tin Mừng diễn ra tại Vatican trong các ngày từ mùng 7 tới 28-10-2012. Vào cuối thánh lễ kết thúc Năm Đức Tin sáng Chúa Nhật vừa qua, Đức Thánh Cha đã trao CD Tông huấn cho 38 người thuộc 18 quốc gia đại diện cho mọi thành phần dân Chúa 5 châu.

Tông thư của Đức Thánh Cha nêu bật năm điểm sau đây: thứ nhất là việc tái truyền giảng Tin Mừng với niềm vui; thứ hai, canh tân óc sáng tạo trong việc loan báo Tin Mừng; thứ ba, Giáo Hội phải là một Giáo Hội rộng mở, tiếp đón và thương xót; thứ bốn Giáo Hội phải đối thoại và vặp gỡ; và thứ năm Giáo Hội phải là tiếng nói ngôn sứ.

Ngỏ lời với các nhà báo Đức Tổng Giám mục Claudio Maria Celli, Chủ tịch Hội đồng Toà Thánh về Truyền thông Xã hội, nêu bật một số điểm của Tông huấn liên quan tới truyền thông. Trước hết, tài liệu có giọng văn nói chuyện, với ngôn từ thanh thản và thân tình, như mọi người đã nhận thấy trong các tháng qua trong triều đại của Đức Thánh Cha Phanxicô. Thứ hai là vai trò của truyền thông trong công tác tái truyền giảng Tin Mừng. Đức Thánh Cha muốn chỉ cho thấy con đường của Giáo Hội trong các năm tới. Ngài rất ý thức được những gì đang xảy ra trên thế giới trong các lĩnh vực sức khoẻ, giáo dục và truyền thông, các tiến bộ, thành công và các kỹ thuật tân tiến (số 52).

Thật thế, thế giới ngày nay tràn ngập các thông tin thuộc đủ loại có ảnh hưởng trên các vấn đề luân lý, vì thế cần phải giáo dục suy tư với óc phê bình giúp trưởng thành trong các giá trị (số 64). Các cơ may truyền thông lớn hơn này cũng phải trở thành các khả thể gặp gỡ giữa tất cả mọi người với nhau. Vì thế cần khám phá ra và thông truyền sự thần bí vủa việc chung sống, hòa trộn với nhau và gặp gỡ nhau (số 87). Đức Thánh Cha ý thức rằng các nền văn hoá mới và các dữ kiện địa lý cống hiến cho Kitô hữu các định hướng mới cho cuộc sống, thường khi trái nghịch với Tin Mừng của Chúa Giêsu (số 73). Nền văn hoá truyền thông và vài môi trường trí thức đôi khi thông truyền một sự mất tin tưởng và một loại vỡ mộng nào đó đối với sứ điệp của Giáo Hội (số 79).

Nói tiếp trong cuộc họp báo, Đức Tổng Giám mục Celli cho biết Đức Thánh Cha dành một phần rộng rãi cho kiểu thông truyền sứ điệp Tin Mừng. Việc thông tin nhanh chóng ngày nay đôi khi khiến cho các phương tiện truyền thông tuyển lựa các nội dung khác nhau theo sở thích và quan điểm riêng. Do đó có nguy cơ khiến cho sứ điệp què quặt và bị giảm thiểu vào những khía cạnh phụ thuộc. Và vài vấn đề trong giáo huấn luân lý của Giáo Hội bị đặt ngoài bối cảnh trao ban ý nghĩa cho chúng, hay bị đồng hóa với các khía cạnh phụ thuộc không diễn tả trọng tâm đích thật sứ điệp của Chúa Giêsu Kitô. Vì thế, Đức Thánh Cha nhấn mạnh việc loan báo phải tập trung nơi điểm nòng cốt, liên quan tới những gì là hay đẹp hơn, lớn lao hơn, hấp dẫn hơn, đồng thời cũng cần thiết hơn của Tin Mừng (số 34).

Đức Thánh Cha cũng dành nhiều chỗ cho đề tài ngôn ngữ của việc loan báo Tin Mừng, là một thách đố lớn đối với Giáo Hội ngày nay. Sự thật là chúng ta sẽ không bao giờ có thể khiến cho các giáo huấn của Giáo Hội trở thành cái gì đễ hiểu và được mọi người ưa chuộng. Đức tin luôn duy trì một khía cạnh của thập giá, một cái gì mờ tối, nhưng không lấy đi sự cương quyết gắn bó với nó” (số 42). Nhưng cần phải liên tục chú ý tìm diễn tả các sự thật ngàn đời trong một ngôn ngữ cho phép nhận ra sự mới mẻ thường hằng của nó (số 41)... Ngoài ra cần có con tim truyền giáo, luôn luôn rộng mở, không khép kín trong các chắc chắn của mình hay lựa chọn thái độ tự vệ cứng nhắc (số 45). Đức Thánh Cha cũng chú ý tới bài giảng, phải biết nói gì, ra sao và khai triển cụ thể thế nào. Ngài khuyến khích việc dùng các hình ảnh trong bài giảng, làm thế nào để nó chứa dựng ”một ý tưởng, một tâm tình và một hình ảnh. Và phải dùng một thứ ngôn ngữ đơn sơ, rõ ràng, tích cực và dễ hiểu đối với người nghe, để thông truyền các chân lý của Chúa và đến với con tim của họ (số 158). Cần can đảm tìm ra các dấu chỉ mới, các biểu tượng mới, một thịt xác mới, các hình thức khác nhau của vẻ đẹp trong các môi trường văn hoá khác nhau để thông truyền Lời Chúa (số 167).

Trong bài giới thiệu của mình, Đức Tổng Giám mục Lorenzo Baldisseri, Tổng Thư ký Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới, nêu bật rằng Đức Thánh Cha Phanxicô đã sử dụng các đề nghị của các Nghị phụ, nhưng soạn thảo chúng một cách cá nhân. Ngài nhấn mạnh niềm vui của Tin Mừng và lập lại từ này đến 59 lần, và trích các đề nghị của các Nghị phụ 27 lần. Tông huấn được khai triển trong khung giáo thuyết với các trích dẫn Kinh Thánh, huấn quyền và các giáo phụ, chẳng hạn như thánh Ireneo, thánh Ambrogio và thánh Agostino, cũng như các thần học gia thời Trung Cổ như chân phước Isacco della Stella, thánh Toma Aguino, Toma thành Kempis. Trong số các thần học gia tân thời có Chân phước John Henry Newman, Henri de Lubac, Romano Guardini và các văn hào khác, trong đó có George Bernanos.

Tông huấn cũng quy chiếu các Tông huấn như: Evangelii nuntiandi của Đức Giáo hoàng Phaolô VI; các Tông huấn hậu Thượng Hội đồng Giám mục như Christifideles laici; Familiaris consortio; Pastores dabo vobis; Ecclesia in Africa, in Asia, in Oceania, in America, in Medio Oriente, in Europa; Verbum Domini. Thêm vào đó cũng có các tài liệu của Liên Hội đồng Giám mục châu Mỹ Latinh như các tài liệu Puebla và Aparecida, cũng như tài liệu của khóa họp thứ XVI của các Thượng phụ Công giáo Trung Đông và các Hội đồng Giám mục Ấn Độ, Hoa Kỳ, Pháp, Brasil, Philipines và Congo.

Tiếp đến, Đức Cha Baldisseri nhấn mạnh vài đề tài trong Tông huấn. Chẳng hạn như đề tài ”tính cách thượng hội đồng giám mục”. Trong viễn tượng Giáo Hội ra khỏi chính mình và tiến tới với người anh em (số 179) Đức Thánh Cha đề nghị một "mục vụ hoán cải" 360 độ, khởi đầu từ giáo xứ (số 28), các cộng đoàn cơ bản, các phong trào và hiệp hội (s. 29), các Giáo Hội địa phương (s. 30) cho tới chức giáo hoàng (s. 32), đặc biệt là thực thi một cách giám mục đoàn quyền tối thượng của Phêrô. Vì thế cả chức giáo hoàng và các cơ cấu trung ương của Giáo Hội hoàn vũ cũng cần lắng nghe lời kêu gọi hoán cải mục vụ (s. 12).

Đề cập tới Công đồng Chung Vatican II, tương tự như các Giáo hội Thượng phụ Cổ xưa, Đức Thánh Cha cầu mong các Hội đồng Giám mục có thể phát triển phần đóng góp đa diện và phong phú để tình mến giám mục đoàn tìm ra các áp dụng cụ thể (LG 22; EG 32).

Trên bình diện đại kết, nhờ sự hiện diện tại Thượng Hôi đồng Giám mục của Đức Thượng phụ Costantinopoli và của Đức Tổng Giám mục Canterbury (số 245) tính cách thượng hội đồng giám mục được diễn tả trong cách thế đặc biệt, bởi vì qua sự đối thoại với các anh em chính thống, tín hữu Công giáo có khả thể học được cái gì hơn liên quan tới ý nghĩa của tinh thần giám mục đoàn và liên quan tới kinh nghiệm của tính cách thượng hội đồng giám mục (số 246).

Tiếp tục bài giới thiệu Tông huấn, Đức Tổng Giám mục Baldisseri nói có một yếu tố ý nghĩa khác: đó là sự kiện Tông huấn là tài liệu có tính cách đại đồng, nhưng tiếp nhận các kích thích mục vụ đến từ các Giáo Hội địa phương khác nhau trên thế giới. Điều này cho thấy tính cách Giám mục đoàn được thực thi. Trong chiều hướng này Đức Thánh Cha khích lệ Giáo Hội ra đi truyền giáo tại những vùng ngoại biên, qua việc hoán cải mục vụ. Ngài dựa trên kinh nghiệm mục vụ đã có tại Tổng Giáo phận Buenos Aires, và việc soạn thảo tài liệu Aparecida của Liên Hội đồng Giám mục châu Mỹ Latinh (số 25). Đức Thánh Cha đã dành một phần rộng rãi để nói về lòng đạo đức bình dân, mà bên chậu Mỹ Latinh và vùng quần đảo Caraibi các Giám mục gọi là "nền tu đức bình dân" hay "nền thần bí bình dân". Đây là một "nền tu đức đích thật nhập thể trong nền văn hoá của những người đơn sơ" (số 124).

Lấy hứng từ định nghĩa của Thánh Toma Aquino, theo đó "ơn thánh giả thiết bản chất tự nhiên", và dựa trên tài liệu Puebla, Đức Thánh Cha sáng chế ra câu nói: "Ơn thánh giả thiết nền văn hoá và ơn của Thiên Chúa nhập thể vào nền văn hoá của người tiếp nhận nó" (số 115). Việc đánh giá cao các nền văn hoá khác nhau sẵn sàng đón nhận Tin Mừng và thông tin nó với các phong phú của chúng, dẫn đưa Đức Thánh Cha tới chỗ tái lượng định yêu sách tuyệt đối của một nền văn hoá. Vì thế, không nhất thiết phải áp đặt một hình thức văn hoá xác định, cùng với đề nghị tin mừng, cho dù nó có xinh đẹp và cổ xưa tới đâu đi nữa (số 117). Liên quan tới việc này, các Giám mục châu Đại dương đã xin rằng tại đây Giáo Hội "phát triển một sự hiểu biết và giới thiệu sự thật của Chúa Kitô, khởi hành từ các truyền thống và các nền văn hoá của vùng này" (số 118).

Liên quan tới việc đối thoại giữa các tôn giáo được đặt để trong thái độ cởi mở trong sự thật và tình yêu thương, Đức Thánh Cha trình bày nó trước hết như là một sự hoán cải trong cuộc sống con người, hay một cách đơn sơ, như các Giám mục Ấn Độ đề nghị "một thái độ rộng mở đối với họ, chia sẻ các vui buồn khổ đau của họ" (số 250). Đối với Hồi giáo, "cần có sư đào tạo thích hợp của các người đối thoại, để họ không chỉ có khả năng nhận biết các giá trị của người khác, mà cũng hiểu biết các lo âu nằm bên dưới các đòi hỏi của họ, và đem ra ánh sáng các xác tín chung... Trước các vụ do khuynh hướng cực đoan bạo lực gây ra khiến cho chúng ta lo lắng, lòng thương mến đối với các tín hữu đích thật của Hồi giáo phải dẫn đưa chúng ta tới chỗ tránh việc tổng quát hoá, vì như các Thượng phụ Công giáo vùng Trung Đông dạy rằng "chúng ta biết rằng Hồi giáo đích thực và kinh Coran vô tội đối với mọi bạo lực" (số 253).

Tiếp đến còn có chiều kích xã hội của việc tái truyền giảng Tin Mừng khiến cho Giáo Hội chú ý tới những người nghèo, những người bị khai trừ, những người bị áp bức (số 176). Cần phải hội nhập họ vào xã hội. Giáo Hội phải lắng nghe tiếng gào thét đòi công lý và phẩm giá của họ (số 186). Cần phải chú ý tới các lý do gây ra thảm cảnh này, và phải thay đổi các cơ cấu thối nát, nặng nề và vô hiệu (số 189). Ngoài ra cũng cần phải lắng nghe tiếng kêu của nhiều dân tộc đòi quyền của họ được có các quốc gia.

Sau cùng là tương quan giữa công ích và nền hoà bình. Việc loan báo hoà bình không phải là loan báo một nền hoà bình được thương thuyết, nhưng là xác tín rằng sự hiệp nhất của Thần Khí làm hài hoà tất cả mọi khác biệt (230), bởi vì Thần Khí chính là sự hài hoà.


Linh Tiến Khải

(Nguồn: R. Vatican)

Đức Thánh Cha tiếp kiến Tổng thống Nga Vladimir Putin

01:42 |



VATICAN - Hôm 25-11-2013 Đức Thánh Cha Phanxicô đã tiếp kiến Tổng thống Nga ông Vladimir Putin. Hai bên đã thảo luận về nhiều vấn đề quốc tế trong đó có chiến tranh Syria.

Đây là lần thứ tư Tổng thống Vladimir Putin viếng thăm Toà Thánh. Hai lần đầu vào năm 2000 và 2003 dưới thời Đức Gioan Phaolô II, lần thứ ba năm 2007 dưới thời Đức Bênêđictô XVI.

Trong hội nghị thượng đỉnh của khối G20 tại San Pietroburgo đầu tháng 9 năm nay 2013 Đức Thánh Cha Phanxicô đã gửi cho Tổng thống Putin và giới lãnh đạo tham dự hội nghị một bức thư yêu cầu các cường quốc đừng "bất động trước các thảm cảnh mà dân tộc Syria yêu dấu đã phải sống quá lâu rồi, và có nguy cơ đem lại các khổ đau mới cho một vùng đất đã bị quá nhiều thử thách và cần có hoà bình". 

Trong thư Đức Thánh Cha nhắc tới các nỗ lực và cam kết của các cường quốc thăng tiến kinh tế tài chánh và cuộc sống cho mọi dân tộc toàn thế giới. Nhưng các xung khắc vũ trang luôn là sự khước từ mọi thỏa thuận quốc tế, tạo ra các chia rẽ sâu xa và các vết thương rách nát đòi hỏi phải có nhiều năm mới lành được. Các cuộc chiến là sự khước từ cụ thể dấn thân đạt các mục tiêu kinh tế và xã hội, mà cộng đồng quốc tế đề ra, như các mục tiêu phát triển của Ngàn năm mới. Rất tiếc là các xung khắc vũ trang đang còn gây khổ đau trên thế giới cho chúng ta thấy mỗi ngày một hình ảnh thê thảm của bần cùng, đói khát, bệnh tật và chết chóc. Thật thế, không có hoà bình thì không có loại phát triển kinh tế nào cả. Bạo lực không bao giờ dẫn tới hoà bình là điều kiện cần thiết cho sự phát triển ấy.

Cuộc họp của các quốc trưởng và chính quyền của 20 nước kinh tế lớn nhất thế giới chiếm 2 phần 3 dân số và 90% tổng sản lượng toàn cầu không có mục đích an ninh quốc tế. Tuy nhiên, không thể không suy tư về tình hình vùng Trung Đông và đặc biết tại Syria. Rất tiếc phải đau lòng mà nhận ra rằng có quá nhiều lợi lộc đã thắng thế, kể từ khi cuộc xung khắc bên Syria bắt đầu, ngăn cản tìm ra một giải pháp giúp tránh cuộc tàn sát vô ích mà chúng ta đang chứng kiến.

Tổng thống Putin cũng đã hội kiến với Đức Tổng Giám mục Mục Pietro Parolin, Tân Quốc vụ khanh Toà Thánh. (SD 25-11-2013).
Linh Tiến Khải
Nguồn: RV