Thánh lễ tạ ơn và cầu bình an sau sự trở về của hai giáo dân Mỹ Yên

02:12 |
GPVO - Sau gần 6 tháng phải ngồi tù để thi hành một bản án oan sai, hai ông Ngô Văn Khởi và Nguyễn Văn Hải đã trở về cùng gia đình, trở lại cuộc sống đời thường của một người dân chất phác.

Về với gia đình, với cộng đoàn giáo xứ, giáo họ, hai ông Ngô Văn Khởi và Nguyễn Văn Hải đã cảm động nói lên lời tri ân: "Tôi không thể diễn tả được xúc động khi biết được sự quan tâm bênh vực của quí Đức Cha, quí cha, quí nam nữ tu sĩ, đồng bào Việt Nam trong cũng như ngoài nước đối với anh em chúng tôi. Hai anh em chúng tôi không biết lấy gì để đền đáp trước những tấm lòng này…".
Về giữa tình anh em đồng đạo, đồng bào hai ông mới thấy được tình cảm trìu mến mà mọi người dành cho mình qua dòng người đến thăm hỏi, sẻ chia. Lượng người rất đông đến với hai ông ngay trong buổi sáng ngày 22/12/2013 và những ngày sau đó khiến chúng ta nhớ đến sự trở về của ông Nguyễn Văn Chấn sau hơn 3500 ngày oan trái. Phải chăng đó cũng là câu trả lời chính xác cho cái gọi là “bản án đúng người đúng tội”?
Thánh lễ tạ ơn và cầu bình an sau sự trở về của hai ông vào trưa ngày 24/12 đã diễn ra trong bầu khí sốt sắng trang nghiêm và cảm động. Rất nhiều người trong số hơn 5 ngàn người tham dự thánh lễ đã nghẹn ngào xúc động khi nghe lời cảm ơn của hai ông: "Hôm nay, chúng con vô cùng sung sướng và vui mừng được được Đức cha cùng quý cha yêu thương, về dâng thánh lễ tạ ơn và cầu bình an cho chúng con... Trong thời gian anh em chúng con bị bắt và phải chịu tù đày một cách oan uổng, Đức cha đã đến thăm viếng, động viên, chia sẻ cùng gia đình chúng con. Đặc biệt, Đức cha đã kêu gọi toàn giáo phận hiệp thông cầu nguyện cho chúng con được bình an và sớm được trả tự do. Cũng vì thế mà Đức cha đã bị báo, đài nói sai sự thật, xúc phạm đến thanh danh...".
Tưởng cũng nên nhắc lại sự việc xẩy ra vào đêm 22/5/2013, được cho là nguyên nhân dẫn đến hàng loạt các sự biến sau này, khi một số người dân hành hương về đền thánh Antôn cầu nguyện thì bị những kẻ lạ mặt vô cớ chặn đường. Việc làm mờ ám này đã gây bức xúc rồi dẫn đến xô xát, các thanh niên này bị người dân đuổi đánh và khống chế. Sau khi kiểm tra trong cốp xe thì mới phát hiện họ là công an huyện Nghi Lộc. Sự việc đã được phía Tòa Giám mục Xã Đoài kịp thời can thiệp, bảo vệ an toàn và đưa những viên công an này thoát khỏi sự bức xúc của người dân". Trong thánh lễ trưa ngày 24/12 vừa qua, từ một giác độ khác sâu xa hơn, căn bản hơn, Đức cha Phaolô đã lý giải nguyên nhân dẫn đến những bức xúc trong sự việc ở Trại Gáo vào ngày 22/5, và cũng là cách "tự xử" rất phổ biến của người dân hiện nay, khi mà nền pháp lý nước nhà cùng những cơ quan hữu trách đã không làm đúng bổn phận, không thật sự vì dân: "Trong thời gian qua, một số anh chị em hiện diện ở đây từng là nạn nhân của bạo lực, hận thù, vu oan giá họa… Có người bị tù tội, một số người còn in đậm trên thân xác những vết tích của bạo lực và rất nhiều người khác bị vu oan hay xỉ nhục. Cổ nhân nói: con giun xéo lắm cũng quằn. Vì vậy, thật dễ hiểu thái độ và phản ứng chống đối mạnh mẽ của một số người". Nhưng bắt bớ và tù đày vẫn không làm chùn bước, nhụt chí đấu tranh của chúng ta, bởi cuộc chiến vì sự thật và công lý luôn là con đường dài và đòi hỏi sự hy sinh, kiên trì. Đức cha Phaolô kêu gọi: "Hôm nay cũng như ngày mai, nhất định chúng ta vẫn tiếp tục tranh đấu để bảo vệ niềm tin, sự thật, nhân quyền và công lý… Có những lúc cần phải trả giá và không thể chấp nhận nhượng bộ với bất cứ giá nào. Tuy nhiên, vì là người con của Chúa, chúng ta luôn được mời gọi để trở thành chứng nhân của Tin Mừng, đặc biệt cố gắng sống theo Bài giảng Trên Núi của Đức Kitô: cương quyết không lấy ác báo ác, nhưng sẽ lấy ân mà báo oán, theo cách nói của thánh Phaolô...". Và chúng ta "không thể làm môn đệ của Đức Kitô, Hoàng Tử Bình An, mà không mở rộng cõi lòng cho tha nhân và không cố gắng trở nên những con người tích cực kiến tạo hòa bình. Vì vậy, cùng với Giacaria trong bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta khẩn khoản nài xin Chúa 'giải phóng ta khỏi tay địch thù và cho ta chẳng còn sợ hãi”. Trái lại, xin Ngài “dẫn ta bước vào đường nẻo bình an, để ta sống thánh thiện công chính trước nhan Người'" (Lc. 2,73-75).
Đáp lời cám ơn của hai ông Ngô Văn Khởi và Nguyễn Văn Hải, Đức cha Phaolô đã trao tặng hai ông bức tượng Đức Mẹ bồng con trong bộ áo dài truyền thống Việt Nam, để nhờ Mẹ ủi an vỗ về trong những lúc gian nan thử thách. Cuối cùng, trong tư cách vị chủ chăn, Đức cha Phaolô cám ơn mọi thành phần dân Chúa trong cũng như ngoài giáo phận đã hiệp thông cầu nguyện và ngài tuyên bố khép lại một giai đoạn đau buồn, chấm dứt đợt cầu nguyện cho giáo phận và hai giáo dân Mỹ Yên theo Thư chung đề ngày 6/9/2013, lật sang một trang sử mới trong năm mới 2014 này. 














GPVO

Xã hội dân sự từ các dòng tu

20:05 |
Sinh hoạt trợ giúp cho các nữ sinh dân tộc thiểu số có phương tiện ăn ở để đi học tại các trường phổ thông của nhà nước do các  Soeur Dòng Chúa Quan Phòng thực hiện tại huyện Dak Hà đã bị chính quyền cấm đoán. Mặc Lâm có thêm chi tiết.
Sinh hoạt tôn giáo trong xã hội


Từ nhiều thế kỷ qua các tôn giáo lớn trên thế giới đều có truyền thống xây dựng những nhà nội trú, bệnh viện, trường học và những cơ sở từ thiện khác nhằm thực hiện tinh thần bác ái cũng như phát triển giáo lý. Những hoạt động này được hầu hết chính phủ các nước nhìn nhận, khuyến khích và giúp đỡ như các tổ chức NGO khác. Tất cả các sinh hoạt xã hội dân sự này bằng cách nào đó đã đỡ tay cho chính phủ rất nhiều, đặc biệt là ở những nước đang phát triển khi nhân lực và tài chánh luôn là nỗi lo cho ngân sách của chính quyền.
Tại Việt Nam những hoạt động xã hội dân sự như thế từ nhiều chục năm về trước được các tôn giáo lớn như Công Giáo, Phật Giáo, Tin Lành và ngay cả Cao Đài, Hòa Hảo đều có cơ sở riêng để giúp đỡ cho tín đồ hay người khác tôn giáo. Giáo hội và tín đồ các tôn giáo được sự hỗ trợ của chính phủ đã cùng nhau góp sức xây dựng những cơ sở giáo dục, y tế, từ thiện khiến cộng đồng đa dạng và tốt đẹp hơn. Chính phủ bớt gánh lo về an sinh xã hội và từ đó tạo niềm tin gắn bó giữa người dân và chính quyền nhiều hơn. Qua các hoạt động này cho thấy xã hội dân sự đã hiển nhiên trở thành một nhân tố không thể thiếu trong sự vận hành của chính phủ.
Trước năm 1975 miền Bắc hoàn toàn thiếu vắng hoạt động này. Tất cả được bao cấp bởi nhà nước và người dân không có khái niệm về xã hội dân sự qua các hoạt động tư nhân như thế. Tại miền Nam mặc dù trong thời kỳ chiến tranh, hình thức này đã nở rộ trên toàn quốc bởi sự đóng góp của các tôn giáo lớn.
Sau năm 1975, các cơ sở do tôn giáo quản lý hầu hết đều bị tịch thu hay cấm đoán. Tôn giáo co cụm lại trong phạm vi chùa hay nhà thờ, mọi sinh hoạt ngoài tôn giáo đều bị nghi ngờ dòm ngó. Tuy nhiên sau một thời gian thì nhu cầu phục vụ người nghèo, tuyên dương tinh thần chia sẻ và bác ái đã khiến hai tôn giáo lớn là Phật giáo và Công giáo âm thầm xây dựng lại những hoạt động từ thiện qua cung cách đơn sơ nhỏ lẻ hơn nhưng vẫn nói lên được tính chất bác ái, giúp đỡ tha nhân của nó.
Các Soeur dòng Đa Minh (minh họa) vietcatholic.net
Các Soeur dòng Đa Minh (minh họa) vietcatholic.net
Các nữ tu thuộc dòng Chúa Quan phòng
Tại vùng sâu vùng xa thì nhu cầu này càng cấp thiết hơn. Các tỉnh Tây nguyên là nơi rất cần những sự giúp đỡ như vậy. Giáo phận Komtum có lẽ là nơi gặp khó khăn nhất khi bắt tay vào việc phục vụ người anh em dân tộc thiểu số.
Tại xã Hà Mòn, huyện Dak Hà từ nhiều năm về trước, các nữ tu thuộc dòng Chúa Quan phòng đã tự tạo ra một cơ sở nhỏ bé dành cho các cháu dân tộc thiểu số từ các khu vực xa xăm trong huyện về theo học phổ thông tại Dak Hà. Một trong bốn nữ tu ấy là  Soeur Đinh Thị Quy kể lại những ngày đầu tiên gây dựng ngôi nhà hiện nay dành cho các em:
- Khu đất này là khu Soeur làm rẫy cà phê. Hồi trước nó là cái chòi thôi nhưng  Soeur cứ làm từ năm 2005 tới bây giờ. Bây giờ thì nó đã thành cái nhà hơn 370 mét vuông. 296 mét vuông là nhà xây bằng gạch, phần còn lại là những công trình phụ tổng cộng 377 mét. Mình không có xin phép xây dựng mà vẫn còn là đất nông nghiệp.
Có lẽ trong thời gian đầu do cần thiết cho học sinh có chỗ cư trú chính quyền đã im lặng cho các  Soeur hoạt động tuy nhiên khi con số học sinh cao hơn thì một hôm chính quyền huyện đã cấm hẳn việc cho các em nghỉ qua đêm từ cơ sở của Soeur Quy và của một giáo dân khác là ông Cường, Soeur Quy kể lại:
- Soeur làm 8, 9 năm nay rồi nhưng không thấy họ nói gì hết cho tới năm nay thì không biết tại sao. Họ kêu  Soeur đăng ký, khi  Soeur lên xã đăng ký thì họ lại từ chối. Họ không cho và tới xét nhà rồi đuổi các em về một đợt rồi. Họ nói là giống như kết luận của Ủy ban huyện họ không cho các học sinh ở nhà bà Quy. Xã thì cứ tuân theo cái lệnh của Huyện. Họ sợ các em bị dụ dỗ đi tu.
Công việc mà các nữ tu theo đuổi lấy tiền từ thu hoạch cà phê để thực hiện mục tiêu bác ái của mình. Con số học sinh xin vào tạm trú ngày càng nhiều và do đó các  Soeur đành phải chọn ra những em khó khăn nhất để giúp đỡ.
Ngày họp mặt đại gia đình huynh đệ dòng Chúa quan phòng từ các Giáo xứ thuộc Giáo phận Ban Mê Thuột hồi tháng 5/2013 (minh họa) gpbanmethuot.vn
Ngày họp mặt đại gia đình huynh đệ dòng Chúa quan phòng từ các Giáo xứ thuộc Giáo phận Ban Mê Thuột hồi tháng 5/2013 (minh họa) gpbanmethuot.vn
- Năm 2006 thì có 5-6 em thôi nó cứ tăng theo từng năm cứ  mỗi năm tăng mười mấy em. Kề năm vừa rồi là 35 em rồi ăm nay thì 47 em nó cứ tăng từ từ như vậy. Các em ở các xã xa quá mà huyện thì mới có trường cấp 3 các em cứ đến mà mình không có chỗ cho nó vì vậy mình ưu tiên cho em nào quá xa quá khó khăn thì mình giúp nó.
Nói về những sinh hoạt hàng ngày của các em  Soeur Quy kể:
- Các em nó đi học ở trường nội trú dân tộc của huyện. Nó đi học từ sáng tới chiều mới về. Các  Soeur thì chỉ lo cơm nước cho các em ăn rồi giúp các em vệ sinh, trật tự thôi. Có dạy cho các em về nhân bản. Giáo lý thì các em nó vô nhà thờ có các lớp trong nhà thờ cho nó học.
Đương nhiên thì những em xa thì rất khó khăn vì đường xa mà đường dốc, nếu đi không nổi thì phải ở nhà trọ còn em nào có thể đi dược thì mỗi ngày phải đi mấy chục cây số đến trường vất vả lắm sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe của các em.
Tuy không được cấp giấy phép nhưng cơ sở của các Soeur vẫn tiếp tục âm thầm nuôi giữ những học sinh khó khăn ấy trong suốt nhiều năm. Cho tới ngày 17 tháng 12 vừa qua thì công an huyện Đak Hà đã không còn tán đồng việc làm của các nữ tu này nữa. Tuy nhiên thay vì tới làm việc với các nữ tu để yêu cầu đóng cửa hay tìm một giải pháp nào đó thì chính quyền lại cư xử một cách thô bạo khiến cho ai nghe lời kể lại của Soeur Quy cũng không khỏi đau lòng:
- Đêm hôm đó thì các em đang ngủ ở nhà nội trú của  Soeur. Họ đến họ làm việc họ bắt các em đi nhưng các em không đi thì họ lôi kéo các em. Trong việc lôi kéo ấy có cả đàn ông đàn bà lôi các em đi từng em một và mặc dầu các em ôm nhau, các em bám vào chân bàn hay vào bất cứ cái gì thì họ cũng lôi đi bằng được. Trong lúc lôi như vậy có một em bị rách áo, một em bị tát và một em bị trật tay.
Bây giờ thì họ làm quá, tới ngày hôm nay mà họ vẫn còn theo dõi. Họ ngồi ở các ngã ba đường hay ở các quán cà phê để theo dõi các em và các em nó sợ quá nó mất hết hồn vía rồi.
Nếu các em bị lôi đi như tội phạm ấy lo lắng một thì những nữ tu hiền lành lại lo lắng đến 10. Con cái của họ không còn nơi để tạm trú qua đêm để sáng hôm sau tới trường kiếm vài con chữ bỏ vào hành trang của chúng đã làm cho họ rơi lệ vì sự thử thách quá nặng nề.
Xã hội dân sự đối với Việt Nam tuy còn xa lạ nhưng tấm lòng của những con người như bốn nữ tu tại xã Hà Mòn chắc chắn sẽ được nhân rộng ra bằng những hoạt động khác. Xã hội dân sự không thể bị dập tắt khi đất nước đã mở cửa hòa nhập vào dòng chảy của thế giới, bởi ở đâu có dân chúng ở đó có xã hội dân sự.
Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok
- See more at: http://lamhong.org/2013/12/19/xa-hoi-dan-su-tu-cac-dong-tu/#sthash.gh9xChpu.dpuf

Ngoại trưởng Hoa Kỳ tham dự Thánh lễ tại Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn

21:52 |
WGPSG-Theo trang tin điện tử của Tổng Giáo Phận TP.HCM, ngoại trưởng Mỹ John Forbes Kerry cùng với phái đoàn của ông đã đến Nhà thờ Chính tòa Đức Bà Sài Gòn vào lúc 14g20 thứ Bảy 14-12-2013, và tham dự Thánh lễ do Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Khảm chủ tể.

Ngoại trưởng Hoa Kỳ tham dự Thánh lễ tại Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn
Theo trang tin điện tử của Tổng Giáo Phận TP.HCM, ngoại trưởng Mỹ John Forbes Kerry cùng với phái đoàn của ông đã đến Nhà thờ Chính tòa Đức Bà Sài Gòn vào lúc 14g20 thứ Bảy 14-12-2013, và tham dự Thánh lễ do Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Khảm chủ tể.
 
Cha Tổng đại diện JB. Huỳnh Công Minh, đại diện Đức Hồng y cùng với quý cha thuộc TGM Sài Gòn đã ra chào và đón ngoại trưởng Kerry tại khuôn viên trước nhà thờ. Ngài ngoại trưởng đã thân mật bắt tay, chào hỏi quý cha và lắng nghe cha Tổng đại diện giới thiệu về tượng Đức Mẹ Hòa bình trước nhà thờ Đức Bà.

Sau đó, ngài ngoại trưởng và phái đoàn ngoại giao Hoa Kỳ đã tiến vào tham quan nhà thờ và tham dự Thánh lễ.

Tưởng cũng nên nhắc lại, ông John Forbes Kerry, một người theo đạo Công Giáo, sinh ngày 11 tháng 12 năm 1943, là một chính khách Mỹ và Bộ trưởng Ngoại giao thứ 68 của Hoa Kỳ. Ông từng là Thượng nghị sĩ  của Massachusetts, từ 1985 đến 2013 làm chủ tịch Ủy ban Đối ngoại của Thượng viện. Ông Kerry là ứng viên tổng thống của đảng Dân chủ trong kỳ bầu cử tổng thống 2004. Ông Kerry đã từng học luật tại Đại học Boston của Dòng Tên năm 1976.

Cuối lễ, ĐGM Phêrô đến bắt tay chào Ngoại trưởng Mỹ và một số người trong phái đoàn. Vị ngoại trưởng đã đặc biệt diễn tả với Giám mục chủ tế về niềm cảm xúc dâng tràn khi được tham dự Thánh lễ tại Vương cung thánh đường Đức Bà Sài Gòn.

Thánh lễ kết thúc lúc 15g20. Trước khi ra khỏi nhà thờ, Ngoại trưởng Mỹ đã đến tận nơi cám ơn ca đoàn và chụp hình chung với các ca viên.
 
13

20

22
Ngoại trưởng Mỹ John Kerry cám ơn ca đoàn
28
14g24: Ngoại trưởng Mỹ John Kerry đến khuôn viên trước tượng Đức Mẹ

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry bắt tay Cha Tổng đại diện Gioan Baotixita Huỳnh Công Minh

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry tiến vào nhà thờ

Cha Tổng Đại diện chào mừng ngài Ngoại trưởng

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry và phái đoàn lắng nghe

Hát kinh Tin Kính

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry cầu nguyện

26

 
Chỉnh Trần, S.J. 
Nguồn: Dòng Tên Việt Nam

Đức Hồng Y Napier: Nelson Mandela một bài học và là một khối kiến trúc cho tương lai

08:30 |
Thế giới hôm nay tề tựu ở Johannesburg để tỏ lòng ngưỡng mộ Nelson Mandela.


Các nhà lãnh đạo thế giới, hoàng gia, những nhân vật nổi tiếng và hàng triệu người dân Nam Phi đã tụ tập để tôn vinh con người đã mang lại nền dân chủ và hỏa giải cho Nam Phi, và đã trở thành một biểu tượng cho những phần còn lại của thề giới.

Trong bài phát biểu của mình tại sân vận động FNB ở Soweto, nơi tưởng niệm được tổ chức, tổng thống Mỹ Barack Obama đã ca ngợi Mandela là một “người không lồ trong lịch sử.”

Cũng có sự hiện diện của Đức Hồng Y Peter Turkson, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh về Công lý và Hòa bình, được Đức Thánh cha Phanxicô bổ nhiệm làm đặc phái viên tham dự buổi lễ tưởng niệm chính thức cựu Tổng thống Cộng Hòa Nam Phi, ông Nelson Mandela đã qua đời vào hôm thứ Năm, ở tuổi 95.   

Đối với những người không thể có mặt tại sân vận động Soweto, những màn hình không lồ sẽ được đặt trên toàn quốc để mọi người có thể theo dõi.

Phóng viên Linda Bordoni của Đài Phát thanh Vatican đã có cuộc tiếp chuyện với Đức Hồng Y Wilfrid Fox Napier, Tổng Giám mục Durban, ngài cho biết dân tộc này đã mang nặng lòng biết ơn những gì mà Madiba đã tiêu biểu, và đối với những điều mà ông đã làm cho đất nước mình, cho nhân dân mình và cho tương lai của họ.

Đức Hồng Y Napier đã kể rằng để xây dựng một quốc gia đa sắc thái và giả vờ một xã hội dân chủ, tầm nhìn tinh tế của Nelson Mandela đã khiến ông “rời bỏ địa vị với chính đảng của mình để tiến hành những cuộc đàm phán” mà ông đã thực hiện với “tầm nhìn tinh tế của người nhiệt thành Nam Phi ông muốn phơi bày ở những cuộc đàm phán đó – một đất nước nơi mà mọi người sẽ được tôn trọng, chấp nhận, thậm chí yêu thương nhau như anh em hay chị em. Và do đó, Nam Phi mà ông mơ ước sẽ là một Nam Phi tràn đầy ‘Ubuntu’ hay ‘nhân đạo’, cảm thông, tôn trọng lẫn nhau.” Ngài nói thực tế mà “ông đã chia sẻ giấc mơ đó với rất nhiều người khiến cho cảm thức tràn đầy của lòng biết ơn đối với những gì mà Nelson Madela đã làm cho chúng ta, và vì chúng ta.”

Đức Hồng y Napier thừa nhận rằng dù Mandela không phải là người Công Giáo, nhưng phần lớn những gì ông đã làm và tiêu biểu rất phù hợp với giáo huấn xã hội Công Giáo.

Ngài nói rằng Giáo huấn Công Giáo “giải mã những gì là những ý tưởng tối cao trong trái tim nhân loại và tinh thần nhân loại.” Và ngài nói “chắc chắn, khi chúng ta nhìn vào cách mà Mandela quan hệ với mọi người, ấn tượng ban đầu mà bạn nhận được là mối quan hê với ông “con người này đang làm cho tôi cảm được tính nhân loại,” “con người này đang chỉ cho tôi đến mức mà tôi không thể nhưng tôn trọng bản thân và trong quá trình tôn trọng bản thân, hãy tôn trọng người khác trong cùng một cung cách ông đã tôn trọng tôi.” Hai nữa, Đức Hồng y Napier chỉ ra rằng – “toàn bộ ý tưởng của sự ăn năn và hòa giải: điều đó không mấy được phổ biến trong chính trị. Nhưng đó là những gì Mandela truyền đạt khi ông bắt đầu các cuộc đàm phán: để thay đổi, chúng ta phải thay đổi chính chúng ta để bắt đầu thay đổi những người khác và thay đổi hoàn toàn tình thế - các giá trị Công Giáo đích thực, các giá trị Ki-tô giáo đích thức, các giá trị nhân loại đích thực…” 
Đức Hồng y kết luận cảm ơn cả thế giới vì nhắc nhở chúng ta những gì mà một nhân vật vĩ đại Nam Phi đã làm ra, và thức tỉnh chúng trước một thực tế rằng “nếu bạn muốn một người tuyệt vời chi phối đến bạn, cách tốt nhất bạn có thể làm là cố gắng trở thành như người tuyệt vời đó. Và đó là những gì tôi nghĩ thế giới đã làm cho chúng ta đang đến với Nam Phi với số lượng lớn như vậy: thể hiện lòng ngưỡng mộ với ông Mandela nhưng cũng nhắc nhở chúng ta rằng điều đó có thể được thực hiện  như vậy trong thời đại của chúng ta và trong tương lai của chúng ta…” 


Jos. Tú Nạc, NMS

Hôi của – Chuyện không của riêng ai

07:52 |
Có lẽ đến chết, bác tài H (30 tuổi, quê ở tỉnh Bình Định) sẽ không quên được cái ngày 4 tháng 12 năm 2013.


Buổi chiều đẹp trời hôm ấy, tay ôm vô lăng chở theo hàng ngàn két bia vừa nhận ở kho từ Sài Gòn đi Phan Thiết. Xe chạy đến vòng xoay Tam Hiệp, khi ôm cua vòng xoay, vì người đông nên anh lấy trái sang đường để tránh va chạm. Cú lấy trái khá gắt hay sao đó để rồi chiếc xe chở đầy bia mà anh đang điều khiển bị lật.
Dĩ nhiên, sau khi xe lật thì hàng ngàn két bia Tiger trên thùng xe đã đổ xuống đường. Tai nạn xảy ra không thiệt mạng người nào nhưng nhiều người đi ngang tai nạn ấy… “thiệt mạng”. Những người đó đã nhắm mắt làm ngơ trước tai nạn, trước nỗi đau của anh tài xế lam lũ kiếm sống, và tệ hơn nữa, còn làm cho anh thêm phần đau khổ bởi sau tai nạn, số bia còn lại chỉ khoảng 10%.
Chuyện những người lấy bia ngày hôm ấy người ta gọi là “hôi của”.
Chuyện “hôi của” sau những tai nạn như thế này không phải là chuyện mới.
Vào ngày 16/6, người đàn ông đi xe máy đến đoạn vòng xoay An Dương Vương – Trần Phú – Sư Vạn Hạnh, Q. 5, TPHCM thì bị 2 tên cướp từ phía sau giật giỏ xách. Nhờ nhanh trí, người này đã giữ được túi nhưng vì giằng co mạnh khiến túi bị rách và tiền 50 triệu bay ra đường.
Lợi dụng tình cảnh lúng túng của người đàn ông, nhiều người dân ào ra giữa đường lượm số tiền bị tung ra trước sự thẫn thờ và bất lực của nạn nhân.
Trưa 2/7, xe tải BKS 54Z… do tài xế S cầm lái, chở đầy bia chai nhãn hiệu Sài Gòn đỏ, lưu thông trên quốc lộ 1A. Khi đi đến cầu vượt Tân Thới Nhất (P. Tân Thới Nhất, Q. 12, TPHCM) do tài xế điều khiển xe với tốc độ khá cao đã khiến nhiều két bia đổ xuống đường. Trong lúc tài xế chưa kịp thu dọn lại hàng hóa thì hàng chục người đi đường bất chấp những mảnh vỡ thủy tinh mang bao tải lao vào “hôi của” đem bia về uống.
Ngày 12/8/2012, một xe tải chở hơn 20 tấn thức ăn hỗn hợp dành cho vịt khi di chuyển trên quốc lộ 1A, đã bị lật nhào xuống ruộng tại tỉnh Bình Định. Sau khi tai nạn xảy ra, nhiều người dân địa phương xông vào mang thức ăn cho vịt về nhà.
Chiều 12/9/2013, trước cửa UBND Q. Ba Đình, Hà Nội, Đại sứ quán Hà Lan tổ chức phát tặng 3.000 chiếc áo mưa cho người dân Hà Nội, với mong muốn nâng cao nhận thức chung về biến đổi khí hậu.
Khi đại biểu chưa nói hết nội dung thì hàng trăm người đã đổ xô lên sân khấu “cướp” áo mưa từ tay Ban Tổ chức. Nhiều người khoe: “Tôi đã lấy được 5 – 6 chiếc rồi, giờ cất đi và chạy vào lấy tiếp”.
Qua những lần như thế, nhiều người, trong đó có cả ta, ta sẽ phê phán, biểu môi, dèm pha, chỉ trích… Dĩ nhiên, phê phán, chỉ trích lòng tham, lối sống bất công đó là quyền tự do của mỗi người. Không ai ngăn cản người ta phê bình, chỉ trích trước cái xấu, cái bất công nhưng đây cũng là dịp cảnh tỉnh, nhắc bảo ta sau những chuyện hôi của như thế này.
Có thể, bất chợt, lòng tham của những người đi đường nổi lên trong lòng họ và thế là tiếng nói của lương tri, tiếng nói của công bằng, của tình người bị tắt. Khi lòng tham nổi lên thì họ quên đi tình đồng loại, quên đi hoạn nạn của người khác, và cứ thế mà lấy, cái gì cũng lấy dù biết đó không phải của mình.
Những người ôm bia, lấy thức ăn, hôi của đó đã được người khác ghi hình lại. Tuy nhiên, trong đời thường, có nhiều và rất nhiều người cũng hôi của của người khác nhưng không ai thấy để ghi hình, để chỉ trích.
Hôi của xuất phát tự trong tâm của những người thiếu công bằng, thiếu tình người. Nhiều lần, nhiều lúc, trong cuộc sống, ta cũng sống thiếu công bằng, thiếu tình người với anh chị em đồng loại nhưng ta giỏi lấp liếm, ta giỏi nói, giỏi che đậy để rồi khó có ai nhận ra ta là người như thế. Giản đơn là trong đời thường, có những anh chị em vì lỡ lầm, vì yếu đuối để rồi làm nên tội. Đứng trước những mảnh đời như thế, ta có tha thứ, có yêu thương và có nâng đỡ họ không? hay ta đứng đó nhìn hoặc là bàng quan? hoặc ta hùa theo đám đông tha hồ ném đá?
Công bằng trong cuộc sống là vấn đề hết sức nhạy cảm và tế nhị. Có thể ta hô hào thật to chuyện công bằng đó nhưng thật sự ta có sống công bằng hay không mới là chuyện khác.
Vẫn là thái độ, vẫn là sự giằng co trong nội tâm của mỗi người như Thánh Phaolô đã từng bộc bạch rằng điều tôi biết là tốt, tôi không làm; nhưng điều tôi biết là không tốt, tôi lại làm.
Trong những ngày đợi chờ của mùa Vọng, Thánh Phaolô đã mời gọi mỗi người chúng ta: “Đêm sắp tàn, ngày gần đến. Vậy chúng ta hãy loại bỏ những việc làm đen tối, và cầm lấy vũ khí của sự sáng để chiến đấu” (Rm 11, 12).
Thật sự phải chiến đấu thật nhiều. Cuộc chiến đấu lớn nhất và cam go nhất vẫn là chiến đấu với chính bản thân của mỗi người chúng ta.
Những ngày mùa Vọng, lời Thánh Vịnh 72 câu 7 văng vẳng bên tai của ta: Triều đại Người, đua nở hoa công lý, và thái bình thịnh trị tới ngày nao tuế nguyệt chẳng còn. Triều đại của Thiên Chúa là triều đại của công lý, của hòa bình và của tình thương.
Viễn cảnh này đã được ngôn sứ Isaia loan báo: Đai thắt ngang lưng là đức công chính, giải buộc bên sườn là đức tín thành. Bấy giờ sói sẽ ở với chiên con, beo nằm bên dê nhỏ. Bò tơ và sư tử non được nuôi chung với nhau, một cậu bé sẽ chăn dắt chúng. Bò cái kết thân cùng gấu cái, con của chúng nằm chung một chỗ, sư tử cũng ăn rơm như bò. Bé thơ còn đang bú giỡn chơi bên hang rắn lục, trẻ thơ vừa cai sữa thọc tay vào ổ rắn hổ mang. Sẽ không còn ai tác hại và tàn phá trên khắp núi thánh của Ta, vì sự hiểu biết Đức Chúa sẽ tràn ngập đất này, cũng như nước lấp đầy lòng biển (Is 11, 5-9).
Với những tâm tình đó, một lần nữa, ta nhìn lại lối sống công bằng trong ta. Ta duyệt lại đức công bằng trong ta đang có.
Có khi ta không hôi của cách công khai nhưng ta đang hôi của âm thầm và kín đáo.
Có khi ta không hôi của về vật chất nhưng ta hôi của về tinh thần và danh dự của anh chị em.
Xin cho ta công bằng từ trong lời nói đến việc làm để ta hành xử công bằng với anh chị em, cách riêng những người sống bên cạnh ta, sống chung mái nhà của ta và nhất là anh chị em ruột thịt của ta.
Khi ta sống công bằng thật sự thì ta sẽ có một chỗ trong đất nước luôn đua nở hoa công lý và nơi đó thái bình thịnh trị sẽ tồn tại mãi.
Lm. Anmai, CSsR
(WGPSG)


Việt Nam và các bảng xếp hạng quốc tế

07:46 |



Việc Việt Nam được xếp thứ 17 trong số 65 nước tham gia vào Chương trình khảo sát đánh giá học sinh quốc tế (PISA) đã trở thành tin hàng đầu của các phương tiện truyền thống chính thống ở Việt Nam trong những ngày qua.

Các báo, đài đã đồng loạt, hồ hởi đưa tin ‘sự kiện’ này và coi đó là một thành tích tuyệt vời vì học sinh Việt Nam vượt qua cả các học sinh tại những nước có nền giáo dục tiến bộ như Anh và Mỹ trong một cuộc sát hạch quốc tế, do Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) thực hiện.


Nhưng PISA không phải là một khảo sát, đánh giá quốc tế duy nhất. Hàng năm nhiều tổ chức đưa ra những đánh giá, chỉ số khác nhau về mức độ phát triển ở những lĩnh vực, khía cạnh khác nhau của các quốc gia trên thế giới. Có điều nhiều trong số những đánh giá, xếp hạng hay chỉ số ấy thường bị Việt Nam phớt lờ hay thậm chí chỉ trích coi là không trung thực.

Điểm qua một vài đánh giá, chỉ số để thấy rõ hơn Việt Nam chưa có chỗ đứng trên nền giáo dục thế giới và vẫn thua kém các nước khu vực – chưa nói đến các nước phát triển trên thế giới – về nhiều mặt khác.

Đại học yếu kém

Trong những ngày qua, bên cạnh những bài viết ca ngợi ‘thành tích vượt trội’ của học sinh Việt Nam, đâu đó cũng có không ít ý kiến trái ngược nhắc nhở rằng đừng quá lạc quan trước ‘chiến thắng vang dội’ ấy vì giáo dục Việt Nam vẫn còn thua kém nhiều nước trên thế giới.

Chuyện học sinh Việt Nam chăm chỉ, cần cù và đạt được những kết quả cao trong những cuộc thi, sát hạch quốc tế như PISA là điều nên khuyến khích, đáng trân trọng, khen ngợi. Nhưng thiết nghĩ chỉ vì đạt được một thành tích như thế trong một cuộc sát hạch như vậy mà coi mình là hơn người là một điều không nên.

Không nên một phần vì dù có tầm cỡ quốc tế, cuộc sát hạch PISA vẫn chưa phản ánh toàn diện được sự thông minh, đặc biệt tính sáng tạo và khả năng ứng dụng của học sinh. Chỉ cần đọc lại các bình luận của độc giả về bài viết có tựa đề ‘Học sinh Việt Nam xếp hạng cao hơn Anh, Mỹ’ đăng trên Vnexpress ngày 04/12/2013, ít hay nhiều có thể thấy điều đó.

Chẳng hạn, một bạn đọc cho rằng học sinh Việt Nam được xếp hạng cao ‘đơn giản vì ở VN người ta dạy học sinh cách trả lời, còn ở nước ngoài người ta dạy học sinh cách đặt câu hỏi’. Người khác bình luận ‘học sinh VN chỉ giỏi học những gì đã có sẵn, không nghĩ ra được những gì chưa có’ hay ‘lý thuyết thì giỏi, ứng dụng và sáng chế chẳng thấy đâu’.

Có một độc giả còn viết rằng: ‘Mình thấy xấu hổ vì điều này. Mình chỉ ước được “ngu” như người Mỹ thôi. Đất nước mình cũng “nghèo” như đất nước họ là mãn nguyện rồi. Không cần nhất bảng này đâu!’.

Đúng vậy, cuộc sát hạch PISA chỉ phản ánh một phần rất nhỏ kiến thức, khả năng của học sinh tại một quốc gia – chưa nói gì đến chất lượng giáo dục chung của đất nước ấy. Vì nếu học sinh Việt Nam được xếp hạng cao như vậy tại sao đến giờ Việt Nam vẫn còn thua xa các nước khu vực về giáo dục?

Đến giờ chưa có một đánh giá hay bảng xếp hạng nào về các trường phổ thông trên thế giới. Nhưng hàng năm luôn có các bảng xếp hạng các trường đại học trên thế giới và trong những bảng xếp hạng đó, các trường đại học Việt Nam vẫn chưa lọt vào bất cứ một danh sách nào.

Chẳng hạn, Việt Nam không có một đại diện nào trong số hơn 700 đại học hàng đầu được QS World University Rankings – một trong ba bảng xếp hạng đại học thế giới có uy tín nhất (hai bảng xếp hạng kia là Times Higher Education và Shanghai Ranking – nêu tên năm 2013.

Trong khi đó các đại học Mỹ và Anh – hai nước được xếp sau Việt Nam trong lần sát hạch của PISA lần này – lại được đứng đầu và chiếm số đông trong bảng xếp hạng.

Cũng theo bảng xếp hạng của QS 2013, Singapore có hai đại học được xếp trong 50 đại học hàng đầu thế giới. Các nước ASEAN khác như Thái Lan, Indonesia, Philippines và Malaysia đều có tên trong bảng xếp hạng. Đáng chú ý là Malaysia có đến sáu trường đại học được nêu tên, trong đó có Universiti Malaya được xếp thứ 167.

QS cũng có bảng xếp hạng các đại học thuộc nước châu Á (QS University Rankings: Asia) và trong 300 đại học được QS xếp hạng năm 2013, Việt Nam chỉ có một đại diện là Đại học quốc gia Hà Nội, trong khi đó Thái Lan có 11 và Malaysia có đến 16 trường hiện diện trong bảng xếp hạng.

Các chỉ số khác

Không chỉ – hay vì – thua kém về giáo dục đại học, Việt Nam còn thua xa nhiều nước trong khu vực về nhiều chỉ số khác.

Chẳng hạn theo Ngân hàng Thế giới, thu nhập đầu người của Việt Nam năm 2012 chỉ có 1,400 USD – thua xa rất nhiều các nước châu Á khác như Singapore (47,210), Hàn Quốc (22,670), Malaysia (9,800), Thái Lan (5,201), Indonesia (3,400) và Philippines (2,470).

Các chỉ số về dân chủ, tự do, Việt Nam cũng xếp sau các nước này. Chỉ số dân chủ của The Economist Intelligence Unit 2013 xếp Hàn Quốc thứ 20, Indonesia 53, Thái Lan 58, Malaysia 64, Philippines 69, Singapore 81 và Việt Nam 144 trong số tổng số 167 quốc gia.

Ở vị trí 172 trên 179, Việt Nam cũng nằm gần như chót bảng – dưới tất cả các nước châu Á nói trên – trong bảng xếp hạng tự do báo chí năm 2013 của tổ chức Phóng viên không biên giới (Reporters Without Borders).

Theo chỉ số tham nhũng của Tổ chức minh bạch Quốc tế (Intnernational Transparency), năm 2013, Việt Nam cũng là một nước có nhiều tham nhũng hơn các nước Á châu kia. Việt Nam bị xếp vào thứ 116, trong khi đó Singapore được xếp thứ 5, Hàn Quốc 46, Malaysia 53, Philippines 94, Thái Lan 102 và Indonesia 114 trong tổng số 175 nước.

Dù chắc ai cũng biết nhưng xin nhắc lại rằng Anh và Mỹ – hai nước bị xếp sau Việt Nam trong lần sát hạch của PISA vừa rồi – đều vượt rất xa Việt Nam về các chỉ số kinh tế, dân chủ, tự do, minh bạch.

Một điều nữa cũng nên nhắc lại là ít khi – nếu không muốn nói là không bao giờ – báo chí chính thống của Việt Nam đề cập đến những chỉ số và bảng xếp hạng này. Thậm chí một số quan chức Việt Nam còn lên tiếng chỉ trích những bảng xếp hạng, đánh giá trên và cho rằng các tổ chức quốc tế ấy cố tình bóp méo tình trạng nhân quyền, dân chủ ở Việt Nam.

Vì bị ‘đóng khung’?

Một câu hỏi quan trọng khác được đặt ra là tại sao Việt Nam lại thua kém các nước trên thế giới và thậm chí một số nước khu vực như vậy về giáo dục đại học nói riêng và kinh tế, dân chủ, tự do nói chung (dù học sinh Việt Nam vượt trội học sinh Anh, Mỹ)?

Phản hồi về bài viết ‘Học sinh Việt Nam xếp hạng cao hơn Anh, Mỹ’ của Vnexpress có người hỏi tại sao được xếp hạng ‘cao hơn mà sao công nghệ nước mình luôn lạc hậu hơn mấy nước đó rất nhiều’. Một người khác trả lời câu hỏi ấy nói rằng đó là vì Việt Nam ‘bị chiến tranh hồi trước’.

Đây cũng là một lý do các quan chức Việt Nam thường hay đưa ra để giải thích sự thua kém của Việt Nam về nhiều lĩnh vực khác nhau.

Vâng, có thể ít hay nhiều chiến tranh tác động tiêu cực đến sự phát triển khoa học, giáo dục và kinh tế, xã hội của Việt Nam nói chung. Nhưng đó không phải là nguyên nhân duy nhất và cũng không phải là lý do chính yếu dẫn đến sự tụt hậu, thua kém của Việt Nam về giáo dục nói riêng và phát triển kinh tế nói chung.

Trong Bản góp ý dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã nêu những mâu thuẫn, bất hợp lý của Điều 4 – hiến định Đảng Cộng sản là ‘lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng’ – vì cho rằng không thể ‘thực thi quyền tự do ngôn luận và sáng tạo văn học, nghệ thuật, bởi lẽ tư tưởng đã bị đóng khung trong một chủ thuyết’.

Cụ thể, các Giám mục Việt Nam chỉ ra rằng: ‘Trong thực tế, sự trói buộc tư tưởng vào một hệ ý thức duy nhất đã kìm hãm tư duy sáng tạo của người dân Việt Nam. Ðây là một trong những lý do lớn, dẫn đến tình trạng trì trệ và chậm tiến của Việt Nam về nhiều mặt: giáo dục, khoa học và công nghệ, văn hóa và nghệ thuật’.

Không chỉ người dân mà ngay cả một số quan chức Việt Nam cũng thấy được những yếu kém, bất cập của giáo dục Việt Nam và không ít người đứng đầu ngành giáo dục đã tìm cách khắc phục những trì trệ đó.

Nhưng đến giờ, mọi cố gắng ‘cải cách’ ấy cũng chẳng mang đến một kết quả tích cực và cụ thể nào vì tất cả hệ thống giáo dục Việt Nam đã bị ‘đóng khung’. Và có thể nói, chừng nào vẫn còn bị ‘đóng khung’ như vậy, giáo dục Việt Nam nói riêng và sự phát triển của nước này nói chung vẫn cứ trị trệ, tụt hậu.

Có thể học sinh Việt Nam thông minh, cần cù, chịu khó hơn các học sinh tại một số nước khác như Anh, Pháp hay Mỹ. Nhưng chắc chắn họ không thể phát huy được khả năng ứng dụng, tính sáng tạo của minh – ở giảng đường đại học hay khi ra trường – nếu tư tưởng, sáng kiến của mình không chỉ không được khuyến khích phát triển mà còn luôn bị ‘đóng khung’.

Và một đất nước – dù có giàu tài nguyên thiên nhiên đến đâu – nếu không biết ứng dụng, sáng chế – thì cũng không bao giờ phát triển được và vẫn là một nước nghèo.

Ngược lại nếu biết khuyến khích tìm tòi, nghiên cứu và tạo một trường thuận lợi, một không gian cởi mở để học sinh, sinh viên phát huy khả năng, sự sáng tạo của họ – hay biết trọng dụng người tài thì một quốc gia – dù không có nhiều tài nguyên – cũng có thể phát triển. Singapore là một ví dụ điển hình.


TS. Đoàn Xuân Lộc

Thiên Chúa hay máy bắn tốc độ

23:33 |
Nhiều người lầm tưởng Thiên Chúa của lòng tin Kitô giáo chỉ là một vị thần vô ngã hay một thế lực thần thiêng kinh khủng.
Thiên Chúa hay máy bắn tốc độ
Thiên Chúa hay máy bắn tốc độ
Nhiều người lầm tưởng Thiên Chúa của lòng tin Kitô giáo chỉ là một vị thần vô ngã hay một thế lực thần thiêng kinh khủng.
Khi người ta quan niệm về Thiên Chúa như thế, thì tội lỗi, trong thực chất, chỉ được nhìn nhận như một chuyện sơ suất của tôi trước một thế lực thần linh và làm phật lòng thế lực thần linh đó, thế thôi. Và thế lực đó sẽ không để cho tôi yên hàn, nếu tôi không làm một nghi lễ “giải hạn” nào đó để xoa dịu cơn tức giận của nó. 
Thiên Chúa bị biến thành một cái máy chuyên rình xem tôi có lỗi phạm gì không, và nếu tôi chọc tức cái máy ấy, tôi sẽ bị trả thù một cách máy móc, sớm hay muộn thôi. Cứ như khi tôi chạy xe ngoài đường, luôn có một cái máy bắn tốc độ đang rình rập để “tóm” tôi, xem tôi có vượt tốc độ cho phép hay không. Khi không may bị tóm, tôi sẽ chẳng thể tranh luận với cái máy đó được… Chỉ còn một cách: nộp phạt (hoặc nếu ma mãnh hơn: hối lộ anh chàng cảnh sát…). Rồi chuyện còn lại là rút kinh nghiệm để không bị… tóm một lần nữa. Thế thôi.
Bạn đừng tưởng không có những Kitô hữu quan niệm sai lầm như thế về Thiên Chúa. 
Bạn cứ thử suy nghĩ kỹ về cách mình đến tòa giải tội mà xem… Bạn đến đó để tìm gặp Lòng Từ Bi Thương Xót đang phập phồng chờ đợi bạn, hay chỉ đơn giản là để nộp phạt vì đã vi phạm một quy định nào đó và sau đó… cất giấy tờ vào túi và đi tiếp? 
Bạn đến nhà thờ ngày Chủ Nhật để tránh né cơn tức giận của một viên an ninh đòi hỏi bạn hàng tuần phải đến trình diện, hay để gặp gỡ Vị Thiên Chúa đang tha thiết và thèm khát được gặp bạn để yêu thương bạn, và chính bạn cũng đang tha thiết được gặp gỡ và yêu thương Người cùng với anh chị em mình?
Nhìn sâu vào tâm hồn mình, có khi chúng ta phải giật mình vì không ngờ mình vẫn còn…
 
Giu-se Ngọc Huỳnh

Đạo đức người thầy giáo Việt Nam xưa và nay

23:31 |
Nhân ngày nhà giáo Việt nam 20.11, chúng tôi mời quý vị suy nghĩ đôi điều về người thầy giáo xưa và nay. Các thầy cô là những kĩ sư tâm hồn” được tôn vinh, là ngày mà dân tộc Việt Nam thể hiện rõ nhất truyền thống “tôn sư trọng đạo
Đạo đức người thầy giáo Việt Nam xưa và nay
Đạo đức người thầy giáo Việt Nam xưa và nay
Dân tộc Việt Nam - một dân tộc có nền văn hiến hàng ngàn năm với truyền thống “ tôn sư trọng đạo”, một dân tộc rất coi trọng bản sắc văn hoá của mình và không xem nhẹ tinh hoa văn hoá của nhân loại. Vì vậy, dân tộc ấy rất coi trọng lớp người đem lại tinh hoa đó, làm giàu cho tâm hồn mình và nhất là con em mình - thế hệ trẻ, tương lai của dân tộc.

1. Dân tộc Việt Nam - một dân tộc có nền văn hiến hàng ngàn năm với truyền thống “ tôn sư trọng đạo”, một dân tộc rất coi trọng bản sắc văn hoá của mình và không xem nhẹ tinh hoa văn hoá của nhân loại. Vì vậy, dân tộc ấy rất coi trọng lớp người đem lại tinh hoa đó, làm giàu cho tâm hồn mình và nhất là con em mình - thế hệ trẻ, tương lai của dân tộc.

Lịch sử dân tộc Việt Nam đã sản sinh và nuôi dưỡng nhiều tấm gương nhà giáo ngời sáng cả cốt cách và tâm hồn. Những con người đó đã tạo nên phẩm chất đạo đức cao đẹp của người thầy trong truyền thống.

Trước hết, người thầy giáo Việt Nam trong truyền thống là những con người đã vắt trọn công sức và tâm huyết để trao lại cho học trò của mình một thứ tài sản vô giá: “đạo làm người”. Ông thầy là người dẫn dắt con người trở thành con người có đạo đức cao đẹp, có trí tuệ sâu rộng. Học trò nào cũng có thể tìm thấy trong nhân cách của mình dấu ấn của người thầy. Trên con đường đời của mình, ai cũng có thể tìm thấy trong sự dạy bảo của thầy những lời khuyên cần thiết cho một cuộc sống có ý nghĩa.

Thứ hai, người thầy giáo trong truyền thống Việt Nam là những con người có lòng yêu nghề tha thiết, vì tương lai của thế hệ trẻ mà “hành nghề”. Hành nghề vì sự nghiệp giáo hoá chứ không phải vì danh lợi.

Thứ ba, họ là những người rất coi trọng tri thức, tôn vinh đạo thánh hiền, lấy “dạy chữ, dạy người” làm lẽ sống.

Thứ tư, họ là những người coi trọng danh dự, lương tâm, giữ gìn khí tiết; xác lập vị trí của mình trong xã hội bằng tài năng và đức độ, bằng học vấn và cống hiến.
Ai sinh ra trên đời này cũng đều có cha mẹ, sự trưởng thành cũng đều có công lao to lớn của người thầy. Người thầy không chỉ dạy ta chữ nghĩa, kiến thức mà còn dạy ta biết làm người cho đúng nghĩa. Nhìn lại những thời kỳ xa xưa nền văn hiến của dân tộc, chúng ta sẽ gặp biết bao nhà giáo dục mẫu mực, lỗi lạc. Từ triều Lê, giáo dục nho học ở nước ta đã phát triển rộng rãi, hầu như không có làng xã nào ở đồng bằng mà không có các lớp học chữ Hán ở trình độ nhập môn. Dường như tất cả mọi người đã theo Nho học đều là thầy dạy, dân ta quen gọi là thầy đồ. Thầy vừa dạy, vừa học, dạy hết chữ thì để học sinh đi học thầy đồ khác. Đó là tình trạng phổ biến của trường lớp Nho học thời xưa.

2. Lịch sử giáo dục dân tộc dưới thời phong kiến vẫn còn lưu lại nhiều tên tuổi các thầy giáo nổi tiếng về đạo đức, khí tiết, học vấn uyên thâm, về thành tựu đã đào tạo, rèn luyện được nhiều người thành đạt, đóng góp cho việc xây dựng đất nước trong các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao và văn hoá. Có thể nêu tên một số nhà giáo tiêu biểu ấy:

Chu Văn An (1292 – 1370): Là người tài giỏi, đức độ nên được nhiều người kính trọng. Đời vua Trần Minh Tông ông được giao chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám và phụ trách việc dạy dỗ các Hoàng tử, Vương tôn. Đến đời vua Trần Dụ Tông, ông dâng sớ xin chém đầu bảy tên nịnh thần nhưng không được chấp nhận nên cáo quan về ở ẩn tại núi Phượng Hoàng. Khi ông mất Trần Nghệ Tông truy phong là Văn Trịnh Công rồi cho thờ ở Văn Miếu Quốc Tử Giám.

Ngay từ khi còn sống nhân dân luôn ca ngợi phẩm chất thanh cao tuyệt vời của ông và coi ông là người thầy vĩ đại. Cuộc đời của ông dù có trải qua bao nhiêu thăng trầm thì bản chất luôn là một thầy giáo mẫu mực. Ông được đánh giá là nhà sư phạm toàn diện nhất trong lịch sử đất nước. Trong suốt cuộc đời hành nghề giáo dục, Chu Văn An đã dạy hầu hết các học sinh từ thấp đến cao, từ bình dân đến quý tộc. Ông nỗ lực giảng giải các học thuyết kinh điển của Nho gia, tạo điều kiện để đưa lý thuyết Khổng Mạnh đi dần đến chỗ độc tôn. Ông có một phương pháp giảng dạy rất đặc biệt nên hấp dẫn được học trò và làm cho mọi người phải tôn kính. Tài, đức của ông làm cho quỷ thần cũng phải kính phục và đến để học tập. Phan Huy Chú đã ca ngợi: Học nghiệp thuần tuý, tiết tháo cao thượng, làng Nho nước Việt trước sau chỉ có một ông, các ông khác không thể nào so sánh được.

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585): Trong hoàn cảnh lịch sử thế kỷ XVI, có thể nhận thấy rằng nhân dân Việt Nam đang có một sự trông ngóng về một con người có tài năng siêu việt và là chỗ dựa tinh thần cho mọi người. Trong bối cảnh đó, Nguyễn Bỉnh Khiêm xuất hiện và ngay lập tức được đón nhận. Người ta thấy rằng ông quả là bậc hiền tài mà họ trông chờ, ông mang đủ tư cách của một ông thầy đáng để cho họ quý trọng. Bằng vốn văn hoá phong phú của mình, ông đã cô đúc được rất nhiều triết lý của cuộc sống. Ông nêu ra được những phạm trù biện chứng, ông giáo dục đạo đức làm người và phê phán những thói hư tật xấu. Nhưng dù khen, chê hay dạy dỗ thì ngôn ngữ, phong cách và tư tưởng của ông vẫn rất bình dị, gần gũi. Đó cũng là một khía cạnh đáng quý trong con người ông. Thực ra những điều ông nói vẫn là sự thực mà ai cũng biết, ông chỉ là người cô đúc, hệ thống lại các triết lý đó rồi dựa vào đó để đi sâu phân tích, để triết lý được đầy đủ hơn. Nhờ vậy, ông đã làm nổi bật thực trạng xã hội và thức tỉnh được lương tri cao đẹp của con người trong cuộc sống xô bồ. Nhân dân luôn coi ông là một người thầy xuất sắc, một học giả uyên bác đã có công cảnh tỉnh họ, đã bày cho họ một lối ứng xử thích hợp với từng hoàn cảnh cụ thể. Biết được những cách xử thế đó, nhân dân lao động có thể tồn tại vững vàng giữa bao nhiêu chuyện mất còn thị phi của chế độ phong kiến đang ở bước suy vong.

Lê Quý Đôn (1726 -1784): Ông được mọi người biết đến với những công trình văn hoá, văn học xuất sắc và ông còn nổi tiếng là một nhà nho, một nhà giáo dục có đức độ, tài năng. Ông mở trường lớp, thu nhận học trò và dạy họ những kiến thức, những đạo đức làm người nên tình cảm của học trò đối với ông rất sâu sắc. Khi Lê Quý Đôn mất, Bùi Huy Bích – một học trò rất thành đạt của ông đã làm bốn bài văn tế thầy đã nói “Thông minh nhất đời, đọc rộng các sách, trước thuật văn chương đủ dạng đời và lưu truyền về sau. Nước ta trong vài trăm năm nay mới có người như vậy”, “Sự dạy bảo của thầy không liệt vào năm bậc luân thường nhưng năm bậc luân thường cũng từ đó mà sắp đặt. Trang phục của học trò không ghi trong tang lễ nhưng không phải tang lễ có thể ra trang phục…ơn dạy bảo sâu dày mà không thể báo đền, tình mến cảm triền miên mà không bao giờ hết được”(4).

Sang thế kỷ XX, dân tộc ta lại có biết bao nhà giáo lỗi lạc, đã tiếp bước những thế hệ đi trước, làm rạng danh thêm nét đẹp của nhà giáo Việt Nam. Như thầy giáo Nguyễn Tất Thành- Hồ Chí Minh, một nhà cách mạng kiệt xuất, một nhà giáo tiêu biểu. Người ta cho rằng, cả Việt Nam hội tụ trong Người, cả Việt Nam tự nguyện sống và học tập theo gương Người, trung thành đi theo con đường mà Người đã chọn… Chỉ những điều đó cũng đủ nói lên tư cách thầy giáo của Người. Và Người không chỉ là người thầy của thế kỷ XX mà còn là ngọn lửa sáng soi cho các thế kỷ sau. Các thầy giáo Đặng Thai Mai, Hoàng Như Mai, Phạm Huy Thông, Nguyễn Lân… cũng đã để lại những dấu ấn không thể phai mờ trong lòng mỗi người dân nước Việt. Nhìn lại quá khứ, hiện tại, tương lai có những người đã từ lâu an nghỉ trong lòng đất, có những người tóc đã bạc trắng, có những người đang cùng học trò tíêp tục cuộc hành trình kiếm tìm chân lý mà các thế hệ trước còn dang dở. Nhưng, những con người đó đã tạo nên những nét đẹp về nhân cách, phẩm chất đạo đức cao cả của người thầy, được nhân dân tôn vinh và quý trọng từ xưa đến nay trong truyền thống dân tộc.

Giáo sư Bùi Duy Tân viết về thầy Cao Xuân Huy: Chỉ với kiến thức văn chương còn hạn hẹp, chúng con đã thấy thầy là một trong số ít những danh nhân văn hoá lớn của thời đại. Thầy thuộc lớp người xưa nay cực hiếm, với trước hết là một nhân cách thường thấy ở những bậc vĩ nhân. Giáo sư Nguyễn Trường Lịch viết về thầy Hoài Thanh: Ai đã học với thầy năm đó chắc không thể quên thầy dặn cả hai lớp đến trăm người rằng: Các anh, các chị làm nghề văn phải thuộc cuộc đời, phải am hiểu cuộc sống. Tôi cảm nhận được “vị nghệ thuật” của thầy vẫn là bắt nguồn từ cuộc sống, sống phải hiểu đặc trưng nghệ thuật …

3. Ngày nay với sự biến đổi của điều kiện kinh tế - xã hội đã tác động không nhỏ tới đời sống đạo đức nói chung, đạo đức người thầy nói riêng. Sự tác động hai mặt của kinh tế thị trường đang làm cho đạo đức xã hội biến đổi theo hai chiều hướng: tích cực và tiêu cực. Vì vậy, mỗi người thầy giáo Việt Nam trong điều kiện hiện nay, để tiếp nối được truyền thống đạo đức cao đẹp của người thầy giáo; để xứng đáng với lòng mong đợi của toàn xã hội; để đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, hội nhập, phát triển thì phải không ngừng trau dồi, hoàn thiện bản thân cả đức lẫn tài để đáp ứng được những đòi hỏi và kỳ vọng của xã hội.

Mỗi người thầy giáo cần phát huy những phẩm chất cao đẹp của người thầy giáo trong truyền thống dân tộc. Mỗi người thầy giáo hôm nay cũng luôn phải là người có lòng yêu nghề tha thiết, vì tương lai của thế hệ trẻ mà hành động, phấn đấu. Hành nghề vì sự nghiệp giáo dục chứ không phải vì quyền lợi vật chất. Họ cũng luôn luôn phải là người coi trọng danh dự, lương tâm, giữ gìn khí tiết, xác lập vị trí của mình trong xã hội bằng tài năng và đức độ chứ không phải bằng quyền lực chính trị, bằng tiền bạc… Họ phải là những người rất coi trọng tri thức, coi trọng chữ nghĩa, tôn thờ đạo thánh hiền.

Ông thầy ngày nay vừa phải chú trọng tri thức khoa học vừa phải biết kết hợp với thực tiễn, phải thấm nhuần nguyên tắc về “sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn”, nói đi đôi với làm, học đi đôi với hành. Mỗi người thầy không những phải trang bị cho học sinh tri thức mà còn phải giúp họ tìm được phương pháp học tập và làm việc có hiệu quả cao.

Thực tiễn phát triển xã hội đòi hỏi phải đẩy mạnh xây dựng đạo đức mới, trong đó có đạo đức nghề nghiệp, đạo đức người thầy, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đang đặt ra những yêu cầu bức thiết đối với nền đạo đức xã hội nói chung và việc lưu giữ, phát huy những giá trị cao đẹp của đạo đức người thầy trong truyền thống nói riêng; Để tạo ra một lớp người Việt Nam cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trí tuệ, đủ năng lực đưa nước ta hội nhập với văn minh nhân loại mà bản sắc dân tộc vẫn được giữ vững, là nhiệm vụ của toàn xã hội nhưng trong đó người thầy giữ vai trò không nhỏ.

Để hoàn thành sứ mệnh cao cả của mình, mỗi người thầy phải không ngừng tự đổi mới, hoàn thiện bản thân để đáp ứng yêu cầu mới, phải có ý thức quyết tâm đi vào khoa học kỹ thuật, nhất là khoa học giáo dục, làm tốt công tác “dạy chữ, dạy nghề, dạy người”. Tập thể người thầy, cá nhân người thầy không ngừng nêu cao đạo đức, tác phong mẫu mực của nhà giáo xã hội chủ nghĩa. Phải làm sao để mỗi người thầy không những là nhà sư phạm mà còn là nhà mô phạm. Say mê, bền bỉ, cần cù, nghiêm túc và sáng tạo trong lao động sư phạm, thành công không kiêu căng, thất bại không nản chí, thương yêu, gần gũi học sinh, đoàn kết với đồng nghiệp, gắn bó với nhân dân, thực sự là những “tấm gương sáng cho học sinh noi theo”.

Sản phẩm lao động của người thầy giáo là nhân cách của học sinh- đó là nguồn gốc tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội. Đó là giá trị gốc “giá trị sinh ra mọi giá trị”. Những người thầy giáo của hôm nay và mai sau hãy tự hào với truyền thống vẻ vang của nghề mình và cùng chung sức để làm cho truyền thống đó ngày càng được tiếp thêm sức mạnh, góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh, phồn vinh.